Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức Công giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 3, 2013

Những bất ngờ thú vị từ Đức Tân Giáo Hoàng

Chia sẻ bài viết này:

giao-hoang-3Sau hai tuần lễ náo nức hồi hộp chờ đợi, thế giới đã có Giáo Hoàng mới (Habemus Papam), Đức Phanxicô. Ngày mà ngài được bầu làm Thủ Lãnh Giáo Hội hoàn vũ rất đẹp, gắn liền với ba con số 3: ngày 13 tháng 3 năm 2013. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đi vào lịch sử Giáo Hội với 3 cái “đầu tiên”, cũng là những cái làm nên những bất ngờ thú vị.
- Vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Mỹ Châu Latinh.
Mỹ Châu là châu lục có số người Công Giáo đông nhất, chiếm 50% dân số Công Giáo Thế giới. Người ta vẫn chờ đợi từ lâu một vị Giáo Hoàng đến từ châu lục này. Tuy nhiên chưa từng xuất hiện trong lịch sử Giáo Hội một vị Giáo Hoàng nào người Châu Mỹ. Trong 4 thập niên trở lại đây người ta nói đến nhiều về Giáo Hội tại Mỹ Châu Latinh. Giáo Hội tại Mỹ Châu Latinh cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn nạn nghiêm trọng, trong đó có vấn nạn rất nhiều người Công Giáo rời bỏ Giáo Hội để chạy theo các giáo phái khác. Có lẽ thời điểm hiện tại là thời điểm đã chín muồi để chọn một vị Giáo Hoàng đến từ Mỹ Châu. Và có lẽ đây cũng là lý do tại sao Mật Nghị Hồng Y đã bầu ra được vị Tân Giáo Hoàng trong một khoảng thời gian ngắn hơn (chưa đầy 2 ngày) khoảng thời gian mà nhiều người dự đoán.
- Vị Giáo Hoàng đầu tiên xuất thân từ Dòng Tên.
Điểm lại lịch sử Giáo Hội, ta thấy rằng mặc dù là một dòng tu trí thức nổi tiếng thế giới, nơi sản sinh ra nhiều nhà thần học lỗi lạc như Henri de Lubac, Karl Rhaner,…; nhưng Dòng Tên chưa hề được vinh danh trong những lần đăng quang Giáo Hoàng trước đây. Trong khi đó, dòng Biển Đức, dòng Đaminh và đặc biệt là dòng Phanxicô, đã nhiều lần được vinh danh. Nhiều vị Giáo Hoàng đã từng xuất thân từ những dòng tu này. Trong đó có các vị nổi danh như Đức Sistô IV và V, Đức Piô X, và XII (dòng Phanxicô), thánh Giáo Hoàng Piô V, Đức Bênêđictô XIII (Dòng Đaminh), Đức Piô VII, Đức Grêgôriô VII (dòng Biển Đức)…
Nay sau 5 vòng bỏ phiếu của Cơ Mật Viện 2013, ĐHY Jorge Mario Bergoglio, Tổng Giáo Mục giáo phận Buenos Aires đã chính thức trở thành vị Giáo Hoàng đầu tiên xuất thân từ Dòng Tên, còn gọi là Dòng Chúa Giêsu. Đây sẽ là một vinh dự lớn lao cho dòng Tên nói chung và Tỉnh dòng Tên Argentina nói riêng.
- Vị Giáo Hoàng đầu tiên chọn Tông hiệu là Phanxicô.
Có những cái tên như Gioan đã được 22 vị Giáo Hoàng (*) chọn làm Tông hiệu; Grêgôriô và Bênêđictô, mỗi cái tên đã được ít nhất là 16 vị Giáo Hoàng chọn; Piô đã có 12 vị; thậm chí cái tên kép “Gioan Phaolô” cũng đã được 2 vị Giáo Hoàng đương đại chọn làm tước hiệu cho triều đại Giáo Hoàng của mình. Còn Phanxicô là cái tên lần đầu tiên xuất hiện trong danh sách Tông hiệu của các vị Giáo Hoàng.
Chúng ta biết rằng thông thường Tông hiệu do Tân Giáo Hoàng tự quyết định. Tông hiệu được chọn có thể là để vinh danh tên của vị Giáo Hoàng tiền nhiệm mà ngài cảm thấy yêu mến hoặc để đi theo đường hướng của các vị tiền nhiệm. Tân Giáo Hoàng cũng có thể chọn tên một vị thánh hay một nhân vật nào đó trong Kinh Thánh. Nếu Tông hiệu của Đức Giáo Hoàng thứ 266 là tên của thánh Phanxicô, vậy thì thánh Phanxicô nào: Xaviê hay là Assisi? Rất có thể là Phanxicô Xaviê, vì Ngài là một trong những vị thánh tổ phụ sáng lập Dòng Tên, nơi mà Đức Tân Giáo Hoàng xuất thân. Còn nếu ngài chọn Danh hiệu là Phanxicô Assisi thì có lẽ cũng hợp với lối sống của ngài: đơn sơ khiêm nhường. Được biết ngay khi đã là Hồng Y Tổng Giám Mục, ngài vẫn thích sống trong một căn hộ nhỏ thay vì Toà Giám Mục sang trọng, thích sử dụng phương tiện đi lại công cộng và có khi còn tự nấu ăn lấy.
Tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo hội một vị Giáo Hoàng, đẹp từ tên gọi đến cung cách sống. Nguyện chúc cho ngài luôn xứng đáng là vị Mục Tử Tối Cao như lòng Chúa mong ước, để tiếp nối triều đại rạng ngời của Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđictô XVI.
(*) Theo tục lệ đếm số của thế kỷ 11, không có số XX, nên sau giáo hoàng XIX là giáo hoàng XXI. Vì thế Đức Gioan XXIII là vị giáo hoàng thứ 22 lấy tông hiệu là Gioan (x. Danh 266 vị Giáo Hoàng, Bách Khoa Toàn Thư).

Chuyên mục: ,

Video: Toàn cảnh đăng quang của tân Giáo hoàng Phanxico I

Chia sẻ bài viết này:
Lời chào của Đức Tân Giáo Hoàng Ít phút sau đó, Đức tân Giáo Hoàng xuất hiện, Ngài ứng khẩu nói với mọi người: Anh chị em thân mến, chào anh chị em Anh chị em biết là nghĩa vụ của mật nghị Hồng y là cung cấp một GM cho Roma. Dường như các anh em Hồng y của tôi đi đến hầu như tận cùng thế giới để lấy vị đó, nhưng bây giờ chúng ta đang ở đây. Tôi cám ơn anh chị em vì sự tiếp đón. Cộng đồng giáo phận Roma dành cho GM của mình. Cám ơn Anh chị em. Trước tiên tôi muốn cầu nguyện cho Đức nguyên GM Roma Biển Đức 16. Tất cả chúng ta cùng nhau cầu nguyện cho ngài, xin Chúa chúc lành cho ngài và xin Mẹ Maria gìn giữ ngài. Tiếp đến Đức Tân Giáo Hoàng và mọi người đọc kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh. Rồi ĐTC Phanxicô nói tiếp: ”Và giờ đây chúng ta bắt đầu hành trình này, GM và dân chúng, hành trình của Giáo Hội Roma là Giáo Hội chủ trì toàn thể các Giáo Hội khác trong đức bác ái, một hành trình huynh đệ và yêu thương, tín nhiệm giữa chúng ta. Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho chúng ta, cầu cho nhau. Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thế giới để có một tình huynh đệ đậm đà hơn. Tôi cầu mong cho anh chị em sao cho hành trình này của Giáo Hội mà hôm nay chúng ta bắt đầu, và cho người giúp đỡ tôi là ĐHY Giám quản hiện diện ở đây, được nhiều thành quả cho công cuộc rao giảng Tin Mừng tại thành phố đẹp đẽ này. ”Và giờ đây tôi muốn ban phép lành cho anh chị em. Nhưng trước tiên tôi xin anh chị em một ân huệ. Trước khi GM chúc lànhc ho dân, tôi xin anh chị em cầu xin Chúa chúc lành cho tôi. Kinh nguyện của dân, cầu xin Chúa ban phép lành cho GM của mình. Chúng ta hãy cầu nguyện trong thinh lặng, anh chị em cầu nguyện cho tôi. Sau cùng, ĐHY Tauran loan báo ĐTC ban phép lành với ơn toàn xá cho các tín hữu, cho Roma và toàn thế giới.
Chuyên mục: ,

16 thg 2, 2013

Lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng cuối cùng

Chia sẻ bài viết này:

Lời ngỏ:
Bài dịch dưới đây của tác giả Hồn Nhỏ vào năm 2005 trong thời gian Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời, và Giáo hội lúc đó đang chuẩn bị bầu một vị Giáo Hoàng thay thế. Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16 sau đó đã được bầu làm Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo. Hôm nay ngày 11/02/2013 Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16 tuyên bố từ chức vì lý do sức khỏe và tuổi già.

     Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, theo lời tiên của thánh Malachy về các Đức Giáo Hoàng thời kỳ cuối, Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 111 và từ chức vào đúng ngày 11. Có nhiều bài viết và sự tranh luận về tính xác thực của lời tiên tri của thánh Malachy. Người thì cho là lời tiên tri rất đúng với những gì đã xảy ra, người thì dè dặt. Nếu như lời tiên tri của thánh Malachy đúng thì có tất cả 112 Giáo hoàng, tức chỉ còn 1 vị Giáo hoàng nữa với danh hiệu Phêrô người Rôma (La mã) là đến thời tận cùng. Chúng tôi xin đăng lại bài viết để thông tin không nhằm mục đích gây hoang mang, lo sợ và xin dành sự biện phân thuộc về quí vị.

Hình sét đánh trên Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô vào ngày Đức Thánh Cha tuyên bố từ chức do một nhà báo chụp.

     Thánh Malachy sinh năm 1094 với tên gọi O'Margair trong một gia đình quý phái ở thành phố Armagh, Bắc Ái Nhĩ Lan. Ngài được rửa tội với tên gọi Maelmhaedhoc. Tên Maelmhaedhoc được La-tinh ngữ hóa và ngài được biết đến với tên gọi là Malachy. Sau một thời gian dài học hành, ngài quyết định thay vì sẽ làm công việc giống như cha ngài đang làm, ngài có ước muốn trở thành một linh mục Công giáo.
     Ngài được thụ phong vào năm 1119 ở tuổi 25. Ngài tiếp tục theo học thần học ở Lismore. Năm 1127, ngài trở thành cha giải tội cho Cormac MacCarthy, hoàng tử của Desmond, người sau này trở thành Vua của Ái Nhĩ Lan. Ngài được phong làm Tổng Giám mục Armagh vào năm 1132. Thánh Malachy qua đời trong lúc hành hương Rôma thứ thứ hai vào năm 1148. Ngài được Đức Thánh Cha Clemente III phong thánh vào ngày 6/7/1199. Điều kỳ diệu trong những lời tiên tri của Thánh Malachy là việc tiên đoán về ngày và giờ chết của chính ngài, và đã xảy ra đúng như thế.
     Thánh Malachy có ơn chữa lành giúp người bệnh tật. Ngoài ra, ngài còn có ơn bay bổng và ơn tiên tri thấu thị. Nhiều phép lạ đã xảy ra liên quan tới những mục vụ của Ngài. Ngài còn được ban cho ơn tiên tri, mà một trong nhưng lời tiên tri quan trọng nhất ngài nhận được trong một thị kiến ở Rôma vào năm 1139 liên quan đến những Vị Giáo Hoàng từ thời của ngài cho tới ngày tận cùng của thời gian - từ Đức Giáo Hoàng Celestine II cho tới thời tận cùng của thế giới. Ngài đã làm thơ để mô tả mỗi một Đức Giáo Hoàng, và đã trao bản viết tay cho Đức Giáo Hoàng Innocent II, và kể từ đó lời tiên tri của Ngài không được nhắc tới cho mãi đến năm 1590, thì được in ra sách, và đã trở thành điểm tranh luận nóng bỏng về tính chất nguyên thuỷ và chính xác của lời tiên tri. Theo như lời tiên tri của Thánh Malachy, thì chỉ còn 2 Đức Giáo Hoàng nữa sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì tới tận cùng của thời gian, mà Đức Giáo Hoàng cuối cùng sẽ mang danh hiệu "Thánh Phêrô người Rôma".
     Thánh Malachy viết những lời tiên tri về các Đức Giáo Hoàng với những danh hiệu có liên quan tới tên gọi nơi gia đình, nơi sinh, huy hiệu hay văn phòng đang nắm giữ trước khi được bầu lên Giáo hoàng. Một số đoạn viết là những lời tiên tri đa dạng được viết rất tài tình bởi lối dùng chữ. Thí dụ như, Đức Giáo hoàng Piô III làm Giáo Hoàng trong vòng 26 ngày vào năm 1503, được Thánh Malachy mô tả là "từ một người đàn ông nhỏ". Tên gia đình của ngài là Piccolomini, tiếng Ý nghĩa là "người đàn ông nhỏ". Thỉnh thoảng, quá khứ cá nhân của Đức Giáo Hoàng là một phần của biệt hiệu được viết bởi Thánh Malachy. Đức Giáo Hoàng Clement XIII (1758-1769) là người có những liên hệ với chính quyền Ý ở Umbria và có huy hiệu là một bông hoa hồng, đã được Thánh Malachy mô tả với biệt hiệu là "Hoa hồng của Umbria".
     Thời gian qua đi đã chứng tỏ cho những người nghi ngờ về lời tiên tri của Thánh Malachy, vì những lời tiên tri của ngài đã thực sự chính xác đến độ làm gây ngạc nhiên. Có tất cả 112 vị Giáo hoàng với những chân tính được liệt kê kể từ Đức Giáo Hoàng Celestine II năm 1143 cho tới thời tận cùng của thế giới.
10 GIÁO HOÀNG SAU CÙNG
1. Đức Giáo Hoàng Piô X 1903-1914, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Lửa cháy bừng", tên thật là Giuseppe Melchiarre Sarto. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, lục điạ Âu châu bùng cháy cuộc chiến tranh như đám lửa cháy lan từ quốc gia này tới quốc gia khác cho mãi tới năm 1914, chiến tranh đã bao phủ toàn bộ lục điạ Âu châu.
2. Đức Giáo Hoàng Benedict XV (1914-1922) biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Tôn Giáo Tiêu Tàn", tên thật là Giacomo Della Chiesa. Đức Giáo Hoàng Benedict XV được biết đến là Đức Giáo Hoàng của chiến tranh, vì lửa chiến tranh bất hòa làn tràn khắp ra thế giới. Ngài đã chứng kiến chủ nghĩa cộng sản đi vào Liên Bang Sô Viết khiến đời sống tôn giáo bị tiêu huỷ, chiến tranh thế giới thứ nhất gây thương vong cho hàng triệu người Kitô giáo như trong cuộc tàn sát ở cánh đồng Flanders và ở nhiều nơi khác.
3. Đức Giáo Hoàng Piô XI (1922-1939), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Đức tin sắt son", tên thật là Achilee Ratti. Là vị Giáo hoàng chứng kiến thế giới chuẩn bị cho một hậu quả của một cuộc chiến để chấm dứt các cuộc chiến. Ngài chứng kiến phong trào phá thai ở Âu châu ra đời, và sự phát triển của chủ nghĩa vô thần được giảng dạy cho các giới trẻ trong các trường đại học và đầu độc để loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đầu óc những người công dân của một trật tự thế giới mới.
4. Đức Giáo Hoàng Piô XII (1939-1958), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Mục tử thiên thần", tên thật là Eugento Pacelli. Ngài đã dành thời giờ trong thời gian đầu làm giáo hoàng  trong lãnh vực ngoại giao của tòa thánh Vatican. Ngài là sự chọn lựa tự nhiên theo sau Đức Giáo hoàng Piô XI vì không có vị lãnh đạo giáo hội nào có đủ kinh nghiệm điều hành giáo hội, và với các lãnh đạo quốc gia trong cuộc xung đột thế giới.
5. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Chủ chăn và thuỷ thủ", tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli. Đức Gioan 23 là tổng Giám Mục Areoplis của Palestine trong khoảng thời gian khai sinh quốc gia Dothái, năm 1953 Đức Giáo Hoàng Piô XII phong ngài làm Hồng Y của Venice. Ngài được xem là vị Giáo hoàng được yêu mến nhất trong các Đức Giáo Hoàng cận đại. Những sử học gia tin rằng ngài được Thánh Malachy tiên tri là thuỷ thủ vì thành phố Venice là một thành phố nước. Thế nhưng cũng có thể khi ngài là tổng Giám mục của Palestine, ngài được coi là một "thuỷ thủ rao giảng" bởi vì miền đất của dân ngoại và Hồi giáo có liên quan trong lời tiên tri là "biển cả".
6. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Hoa của muôn hoa" tên thật là Giovanni Battista Montini, Ngài làm Giáo hoàng trong thời gian 15 năm. Danh hiệu của ngài là là ba bông hoa Iris.
7. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (1978-1978 - 33 ngày), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "trăng bán nguyệt" (nửa vầng trăng), tên thật là Albino Buciani, là vị Giáo hoàng chăn dắt Giáo hội  trong thời gian ngắn nhất là 33 ngày. Khi ngài được bầu Giáo hoàng ngày 26/8/1978, là thời gian có trăng hình bán nguyệt. Trong thời gian ngài làm Giáo hoàng, sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo quá khích chống lại thế giới dân ngoại bùng nổ. Tổ chức OPEC dầu hỏa ra đời, và các quốc gia Ảrập dùng vũ khí dầu hỏa của họ để chống lại các quốc gia kỹ nghệ. Dấu hiệu của Hồi giáo là hình "trăng bán nguyệt".
8. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Nhật thực" hay cũng còn có nghĩa là "Mặt trời lam lũ". Ngài là hoàng tử người Balan của Giáo hội Công giáo. Ngài là vị Giáo hoàng đã có công trong việc làm cho chủ nghĩa cộng sảng sụp đổ. Trong suốt 25 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tông du nước ngoài trên 100 lần và cái chết lịch sử của Ngài đã lôi kéo trên 3 triệu người tham dự tang lễ. Ngày ngài sinh ra ngày 18/5/11920 vào buổi sáng có hiện tượng nhật thực trên toàn cõi Âu châu, và ngày ngài qua đời cũng có nhật thực bán phần trên vùng trời Bắc Mỹ.
9. Đức Giáo Hoàng kế Đức Giáo Hoàng chót, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Ngành Ô-liu rực rỡ". Điều kỳ diệu là Chúa Giêsu nói lời tiên tri về thời tận cùng cũng trên núi Olive. Vị Giáo hoàng này chăn dắt Giáo hội trong thời kỳ khởi đầu sự bách hại mà Chúa Giêsu đã nói đến trong Kinh thánh. Vị Giáo hoàng này sẽ có liên quan tới cây/cành Ô-liu vẫn được xem là dấu chỉ của hòa bình, hay cũng có thể liên quan tới cây, trái ô-liu. Dòng thánh Benedict nói rằng vị Giáo hoàng này đến từ nhà dòng của họ, vì dòng còn được biết như là "những người của hòa bình". Thánh Benedict đã nói tiên tri rằng trước ngày tận cùng của trật tự thế giới, nhà dòng của ngài sẽ chiến thắng dẫn dắt Giáo hội chống lại sự dữ.
10. Đức Giáo Hoàng thứ 112 cuối cùng, biệt hiệu trong lời tiên tri Thánh Malachy "Phêrô người Rôma". Lời tiên tri viết về vị Giáo hoàng thứ 112 này: "trong thời kỳ bách hại sau cùng của Giáo hội La mã, Phêrô thành Rôma sẽ lên ngôi, người sẽ chăn dắt đoàn chiên giữa những cơn bách hại; sau khi một thành phố trên 7 đồi (Rôma) bị phá huỷ và một vị Quan Án kinh hoàng sẽ xét sử muôn dân".
     Có chút vấn đề về những lời tiên tri được liệt kê trong sách “Những Lời tiên tri của Thánh Malachy” xuất bản bởi Thomas A. Nelson, một nhà sách xuất bản Công giáo thì bản nguyên thuỷ của Thánh Malachy chỉ có 111 Đức Giáo Hoàng, chứ không phải là 112 như trong bản màu nâu xuất bản sau này. Trong khoảng giữa ấn bản thứ nhất và ấn bản sau này thì vị Giáo hoàng 112 là Phêrô Thành Rôma được thêm vào trong lời tiên tri của Thánh Malachy.

Hồn Nhỏ chuyển dịch

Chuyên mục: ,

25 thg 12, 2012

Khoa học làm sáng tỏ bí mật trong mắt ảnh Đức Mẹ Guadalupe sau hơn 400 năm

Chia sẻ bài viết này:

Một ngày đẹp trời 12-12-1531, Juan Diego – một người mới trở lại Công giáo ở Mexico – không thể mơ có một ngày anh lại có thể được nhớ tới và tôn vinh là thánh nhân và được đặt trên bàn thờ của Giáo hội hoàn vũ.

121212Eyes

Mañanitas Guadalupe sáng 12-12-12 tại giáo xứ Cha Nghị ở Catalina

Juan Diego trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì anh lại nghe tiếng nói ngọt ngào của một Phụ Nữ Đẹp hiện thực trước mắt mình tại chân đồi Tepeyac ở ngoại ô thành phố Mexico vào 2 ngày trước đó.
Người Phụ Nữ Đẹp ấy lặp lại ước muốn của Bà là có một Nhà Nguyện được xây nơi Bà hiện ra. Juan Diego nói với Phụ Nữ Đẹp rằng ĐGM Juan Zumarraga đòi bằng chứng xác thức về yêu cầu này.
Người Phụ Nữ Đẹp đó chỉ cho Juan Diego lên đồi nhặt hoa hồng đưa cho giám mục. Theo hướng dẫn của Phụ Nữ Đẹp, Juan Diego nhặt một bó hoa hồng Castilian ở trên đồi mà theo Bà yêu cầu và bỏ vào áo choàng (tilma) của mình. Anh về gặp và đưa bó hoa hồng đó cho Giám mục. Kho mở áo choàng để lấy hoa hồng đưa cho Đức giám mục thì lạ thay, những đóa hồng đã biến thành những hình in trên áo choàng của mình với một Phụ Nữ Đẹp cao 143 cm với nước da hơi sẫm. Việc khác cũng lạ lùng là vào mùa Đông mà trên đồi Tepayac lại có những đóa hồng Castilian đang nở hoa.
Đó là câu chuyện hay về Đức Mẹ Guadalupe. Hình ảnh Đức Mẹ được bao quanh bằng những tia nắng, dưới chân Đức Mẹ có vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Đức Mẹ lên. Đức Mẹ mặc áo choàng màu xanh có những ánh sao vàng, bên trong là áo dài hồng kết những nụ hồng viền vàng. Chiếc đai lưng màu đỏ tía thắt quanh eo như các thai phụ Aztec vẫn sử dụng.
Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Đức Mẹ là Coatloxopeuh (theo tiếng Aztec Ấn độ ở vùng Nahuatl nghĩa là “người đạp rắn”). Về lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec thời đó. Nhờ Đức Mẹ Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người bản xứ đã trở lại Kitô giáo.
Khăn choàng đầu của Juan Diego được làm bằng sợi thô, không hoàn toàn thích hợp để vẽ. Nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu khăn choàng đó từ năm 1666 với các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia. Các phát hiện của họ cho thấy như sau: Các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh đó vượt ngoài tầm hiểu biết của khoa học; hình ảnh đó không thể do con người vẽ; màu sắc “kết hợp chặt chẽ” vào thớ vải; chất màu được dùng không rõ nguồn gốc. Hơn nữa, tấm khăn choàng đó làm bằng sợi đặc biệt, sau 476 năm vẫn còn nguyên si.

Tác giả Renzo Allegri, trong bài viết Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng gây ngạc nhiên nhất đã gợi sự tò mò khoa học quan tâm hình ảnh Đức Mẹ Guadalupe, quan tâm cái gì đã được phát hiện trong đồng tử mắt của Đức Mẹ. Năm 1929, Alfonso Gonzales, nhiếp ảnh gia của Đền thờ Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản phim, thấy rằng cái có vẻ là hình ảnh rõ nét một đàn ông có râu phản ánh ở mắt bên phải. Sau hơn 20 năm, một nhiếp ảnh gia khác của Đền thờ Guadalupe là Carlos Chavez đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái và mắt bên phải của Đức Mẹ Guadalupe. Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner thực hiện 5 cuộc nghiên cứu, dùng các loại kính lúp và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có hình người trong hai mắt của Đức Mẹ.
Hiện tượng lạ như vậy trở nên “giật gân” hơn khi mắt Đức Mẹ được nghiên cứu khi dùng các kỹ thuật tinh vi hơn có nối kết với máy vi tính.
Năm 1979, TS Jose Aste Tousman, một kỹ sư giỏi chuyên ngành vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mexico. Ông là một trong các nhà nghiên cứu hàng đầu về mắt của Đức Mẹ Guadalupe. Allegri viết rằng công việc của TS Tousman làm trong 23 năm là điều khác thường; ông đã dùng các thiết bị cập nhật hóa và tinh vi nhất, các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã hình ảnh chụp qua vệ tinh. TS Tousman phóng to hình ảnh mắt của Đức Mẹ Guadalupe tới 2.500 lần, dùng 25.000 màu để minh họa cho mỗi mm vuông.
Sau khi chọn lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, TS Tousman phát hiện toàn cảnh được “chụp” trong mắt của Đức Mẹ Guadalupe. Trong đó có khoảng 11 người. Có một người Mexico ngồi xếp hai chân và tóc dài được tết thành đuôi sam. Kế ông là một người đàn ông lớn tuổi, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và dài xuống hai má. Đặc

điểm này được xác định là ĐGM Juan Zumarraga. Bên trái là người phiên dịch, tức là Juan Gonzales. Có một ông già có râu và ria, mũi to kiểu người La Mã, gò má cao, mắt sâu và môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là người Da Đỏ bản xứ – đang mở khăn choàng khi ông quay mặt về phía ông già. Rõ ràng là Juan Diego, đam những đóa hồng trong khăn choàng cho ĐGM. Cũng có những người khác không xác định gồm cha mẹ, ông bà, và 3 đứa trẻ.
Mắt Đức Mẹ đã “chụp” lại tất cả, xem ra như hình chụp trong mắt này đã ghi lại để rồi sẽ được phát hiện vài trăm năm sau, khi con người có thể sáng chế các thiết bị tiến bộ.
Sứ điệp của Đức Mẹ Guadalupe là gì qua các phát hiện khoa học kỹ thuật? TS Aste Tousman có phản ánh như sau: Sự hiện diện của những người không xác định kia có thể là sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình. Hai người đàn ông da trắng và những người Da Đỏ bản xứ là sự hiện diện của các dân tộc, có thể đó là việc cảnh báo về việc chống phân biệt chủng tộc và là lời kêu gọi tình huynh đệ. Phát hiện này là lời mời gọi dùng kỹ thuật để phát triển Lời của Đức Kitô.
Juan Diego đã được chân phước Gioan Phaolô II phong thánh tại Mexico. Người thanh niên bản xứ này rất khiêm nhường và giản dị này không thể nghĩ rằng Phụ Nữ Đẹp Guadalupe mà anh đã được diện kiến ở đồi Tepayac sẽ có nhiều bí mật khác được phát hiện như ngày nay, dự trữ cho các thế hệ tương lai. Trong cách nghĩ đơn giản của anh, anh không thể hiểu thấu điều này. Đủ để nói rằng anh đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng yêu anh vì anh có tâm hồn giản dị và thanh khiết.
(Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com, Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida)

Chuyên mục: ,

10 thg 12, 2012

Chương trình đón chào Giáng sinh tại Giáo xứ Thái Hà

Chia sẻ bài viết này:
CHƯƠNG TRÌNH MÙA VỌNG VÀ GIÁNG SINH 2012 GIÁO XỨ THÁI HÀ. 

1. Tĩnh tâm giới trẻ.
từ ngày 10-13 tháng 12: Đức tin và những thách đố.
2. Tĩnh tâm giáo xứ.

  1. 17/12: mùa vọng, mùa đón chờ Chúa đến
  2. 18/12: mùa vọng, mùa hy vọng và yêu thương.
  3. 19/12: mùa vọng, mùa đón nhận và chia sẻ.
  4. 20/12: mùa vọng, mùa giao kết đất trời.

3. Giáng sinh.
1. Ngày 22/12: 
    20h - 22h: văn nghệ mừng Chúa Giáng sinh.
2. Ngày 24/12:

  1. 18h30: lễ vọng Chúa Giáng sinh.
  2. 20h-22h: diễn nguyện Giáng sinh.
  3. 22h30: đại lễ Chúa Giáng sinh.

3. Ngày 25/12:
    Đại lễ Giáng sinh.



Chuyên mục: , ,

2 thg 11, 2012

Ơn Đại xá, Tiểu xá

Chia sẻ bài viết này:
Ðền Tội Và Ân Xá
CHUA 3"Này đây phân nữa tài sản của tôi, tôi xin cho người nghèo;  và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." (Lc 19,1-10)
1. Việc đền tội có ý nghĩa gì?
Việc đền tội nhằm bù đắp phần nào những thiệt hại do tội lỗi gây ra. Việc đền tội cũng cho ta được dịp chung phần đau khổ với Chúa Kitô, và trở nên giống Ngài là Ðấng đã đền tội thay cho ta.

2. Ngoài việc xưng tội còn có những hình thức sám hối nào?
Ngoài việc xưng tội, Hội Thánh còn nhấn mạnh đến ba hình thức sám hối này là: ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí.
3. Ân xá là gì?


Là sự tha thứ ta nhận được từ kho tàng các công ơn của Chúa Giêsu và các thánh, do Hội Thánh ban phát, để xóa bỏ những hình phạt ta còn phải chịu sau khi tội đã được tha.

4. Có mấy thứ ân xá?
Có hai thứ ân xá:
- một là ơn đại xá, tha toàn phần các hình phạt,
- hai là ơn tiểu xá, tha một phần hình phạt mà thôi.

5. Muốn hưởng ơn đại xá ta phải làm gì?
Phải làm những việc Hội Thánh dạy và quyết tâm hoán cải bằng cách dứt khoát với tội lỗi, rước lễ và cầu nguyện theo ý Ðức Giáo Hoàng.

ƠN TOÀN XÁ (ĐẠI XÁ)    Trước hết, chúng ta nên nhớ là Ơn Đại Xá và Ơn Toàn Xá chỉ là một ơn duy nhất, song được Việt Ngữ diễn tả bằng hai cách khác nhau. Ơn Đại Xá hay Ơn Toàn Xá là ơn hoàn toàn tha tất cả mọi hình phạt do tội lỗi cần phải đền, dù các tội lỗi ấy đã được Bí Tích Hòa Giải thứ tha. Bởi thế, ai thực sự hưởng trọn Ơn Toàn Xá này thì khi chết, nếu chưa kịp phạm thêm một tội nào khác, sẽ được lên Thiên Đàng ngay, không phải qua luyện tội tí nào, giống hệt như trường hợp chết ngay sau khi được rửa tội, hay trường hợp được phúc tử đạo vậy, vì cả hai trường hợp được so sánh này, trường hợp rửa tội bằng nước và bằng máu ấy, theo Giáo Lý, đề được tha chẳng những tội lỗi mà còn cả tất cả mọi hình phạt do tội lỗi đáng phải đền nữa. 
  Điều kiện để lãnh ơn Đại xá:
   + Chính vì lý do Ơn Toàn Xá chỉ tha tất cả mọi hình phạt chứ không phải tha chính tội lỗi mà điều kiện tiên quyết để được lĩnh Ơn Toàn Xá này là phải sạch tội hay phải xưng tội.
   + Điều kiện thứ hai là hiệp lễ, bởi vì nếu Ơn Toàn Xá làm cho linh hồn được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa ngay, tức được hiệp thông với Ngài liền ngay sau khi Kitô hữu qua đời, thì thật là hợp tình hợp lý cho việc con người tỏ ra hết lòng khao khát muốn được hiệp thông vời Ngài, qua việc Hiệp Lễ vậy.
   + Và điều kiện thứ ba là cầu theo ý chỉ của Đức Giáo Hoàng, một điều kiện liên quan đến việc hiệp thông với Giáo Hội Chúa Kitô, với Cộng Đồng Hiệp Thông Ân Phúc, một cộng đồng chất chứa kho tàng công nghiệp của Chúa Kitô, của Mẹ Maria và của Các Thánh là những gì linh hồn được trọn vẹn hưởng bằng Ơn Toàn Xá vào một dịp đặc biệt nào đó, như vào các Năm Thánh,
Thế nhưng, để lĩnh Ơn Toàn Xá vào mỗi dịp đặc biệt, ngoài 3 điều kiện căn bản bất khả thiếu trên đây, Kitô hữu Công Giáo chúng ta còn phải thi hành đúng qui định của Tòa Thánh cho mỗi dịp nữa, những qui định thường liên quan đến 4 yếu tố là thời điểm, thụ nhân, địa điểm và việc làm.

LÃNH ÂN XÁ: ĐẠI XÁ, TIỂU XÁ
Ðiều thuộc đức tin là: Giáo hội có quyền ban Ân xá. (D. 989,998).
Ân xá là ơn Giáo hội ban nhờ công nghiệp Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và các Thánh, để tha hình phạt tạm người ta phải chịu bởi những tội đã được Chúa tha.
Ân xá có hai loại: Ðại xá (tha hết), và Tiểu xá (tha một phần).
Mọi tín hữu có thể lãnh đại xá, tiểu xá cho mình hoặc nhường lại cho người đã qua đời (Giáo Luật 994).

Muốn hưởng ân xá, tín hữu phải có những điều kiện sau:
1. Phải đọc kinh hay làm việc Giáo hội dạy để lãnh ân xá. Trước khi đọc kinh hay làm việc ấy phải giục lòng ăn năn chê ghét dốc lòng chừa mọi tội trọng, tội nhẹ đã phạm (Tông huấn Ân xá số 26).
2. Phải xưng tội ít nhiều ngày trước hoặc sau ngày lãnh đại xá, rước lễ chính ngày lãnh đại xá, và cầu nguyện theo ý Ðức Giáo Hoàng là đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng, hay một kinh nào tùy lòng đạo đức mọi người. Khi viếng nhà thờ để lãnh đại xá sẽ đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Tin kính.
Bà Thánh Brigitta nói: "Ai lãnh được một đại xá trước khi chết, thì sẽ được tha thứ và được rước vào Thiên đàng ngay, như khi vừa lãnh Bí tích Rửa tội mà chết vậy".
Ngày 1.1.1967, Ðức Giáo Hoàng Phaolô đệ Lục đã định lại các ân xá. Mọi ngày chỉ được lãnh một đại xá, trừ khi gần chết được lãnh thêm một đại xá nguy tử (số 24).
Tiểu xá có thể lãnh một ngày nhiều lần (số 24,3).



Sau đây xin kể những kinh, những việc có đại xá, tiểu xá:

1. CÁC KINH CÓ ÐẠI XÁ (theo số trong Tông huấn)
22. Ðọc kinh Lạy Ðức Chúa Giêsu rất nhân lành rất cam thay sau khi Rước lễ các Thứ Sáu Mùa Chay, và Tuần Thương khó. Các ngày khác chỉ được tiểu xá.
26. Ðọc kinh Lạy Ðức Chúa Giêsu rất nhân lành, Chúa đã yêu dấu loài người quá bội vào ngày lễ kính Trái Tim Chúa để đền tạ Chúa. Các ngày khác chỉ được tiểu xá.
27. Ðọc kinh Lạy Ðức Chúa Giêsu rất êm ái dịu dàng, là Ðấng đã chuộc tội loài người ta vào ngày lễ Chúa Giêsu Vua. Các ngày khác chỉ được tiểu xá.
48. Ðọc chung và suy ngắm 50 kinh Mân côi trong nhà thờ, hoặc nhà nguyện công, hoặc với gia đình, cộng đồng tu trì, hay hội đạo đức. Ngoài ra chỉ được tiểu xá.
59. Hát kinh "Ðây Nhiệm tích vô cùng cao quí" tối Thứ Năm Tuần Thánh và lễ Mình Thánh Chúa. Hát các lúc khác chỉ được tiểu xá.
60. Hát kinh Tạ Ơn Chúa (Te Deum) chiều ngày cuối năm. Hát lúc khác chỉ được tiểu xá.
61. Hát kinh Ðức Chúa Thánh Thần (Veni Creator) ngày đầu năm mới và lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Các lúc khác chỉ được tiểu xá. 

2. CÁC VIỆC CÓ ÐẠI XÁ
3. Viếng Chúa, chầu Mình Thánh Chúa nửa giờ. Không đủ nửa giờ chỉ được tiểu xá.
11. Viếng một trong bốn đại Thánh đường Rôma vào lễ Bổn mạng đại thánh đường ấy, hoặc tùy chọn một lần trong năm.
12. Lãnh phép lành Ðức Giáo Hoàng ban cho Rôma và thế giới (dù qua radio, TV).
13. Viếng nghĩa địa cầu hồn trong vòng 8 (tám) ngày đầu tháng 11. Viếng các ngày khác chỉ được tiểu xá.
17. Thờ lạy và hôn kính Thánh giá ngày Thứ Sáu Tuần thánh theo nghi lễ Giáo hội.
23. Dự nghi lễ bế mạc Ðại Hội Thánh Thể.
25. Cấm phòng ba ngày trọn.
28. Giờ nguy tử, dù không thể có Linh mục tới ban các Bí tích cuối cùng và phép lành Tòa Thánh, Giáo hội cũng ban đại xá cho những ai trong đời sống đã có thói quen đọc kinh cầu nguyện (trường hợp này thói quen đó thay ba điều kiện xưng tội, rước lễ, cầu theo ý Ðức Giáo Hoàng). Người nguy tử hôn kính tượng Thánh giá, giục lòng ăn năn tội để lãnh đại xá.
35. Dùng Thánh giá, tràng hạt, ảnh đeo Ðức Giáo Hoàng hay Ðức Giám Mục đã làm phép (để tôn kính, lần hạt...) vào ngày lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô Phaolô, và đọc bản tuyên xưng Ðức Tin (kinh Tin kính). Dùng Thánh giá, tràng hạt, ảnh đeo do Linh mục làm phép chỉ được tiểu xá.
41. Nghe vài bài giảng trong kỳ có Linh mục tới giảng đại phúc, cấm phòng và dự nghi lễ trọng thể bế mạc. Nghe các bài giảng lúc khác chỉ được tiểu xá.
42. Người Rước lễ lần đầu và những người dự Thánh lễ ấy.
43. Linh mục dâng lễ đầu tay trọng thể và những người dự lễ ấy.
49. Linh mục tuyên hứa lại trung thành với Ơn gọi tu trì và những ai dự lễ trọng kỷ niệm 25, 50, 60 năm thụ phong Linh mục.
50. Cung kính đọc Kinh Thánh đủ nửa giờ. Không đủ nửa giờ chỉ được tiểu xá.
63. Viếng và suy gẫm đủ 14 đàng Thánh giá. Ði từng nơi, nếu ít người.
65. Viếng nhà thờ giáo xứ ngày lễ Bổn mạng nhà thờ ấy, hoặc ngày 02 tháng 8 (ngày đặc ân Portiuncula của nhà thờ Thánh Phanxicô tại nước Ý).
66. Viếng nhà thờ, hoặc bàn thờ ngày được làm phép hiến thánh.
67. Viếng nhà thờ hoặc nhà nguyện công hay bán công vào Chúa Nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ các Thánh để cầu cho các linh hồn Luyện ngục.
68. Viếng nhà thờ, nhà nguyện dòng ngày kính Vị Thánh Sáng lập.
69. Dự một nghi lễ tại nhà thờ trong thời gian Ðức Giám Mục hay Ðại diện thăm mục vụ Giáo xứ. Nếu chỉ viếng nhà thờ trong thời gian đó thì được tiểu xá.
70. Tuyên lại lời hứa khi lãnh Bí tich Rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh, hoặc vào ngày kỷ niệm được Rửa tội theo quãng Giáo hội quen dùng (từ bỏ ma quỉ, tin kính Thiên Chúa). Tuyên lại lúc khác chỉ được tiểu xá.

3. CÁC KINH CÓ TIỂU XÁ
2. Kinh Tin, Cậy, Mến, và ăn năn tội.
6. Kinh Lạy ơn Ông Thánh Giuse, chúng con chạy đến cùng Người.
9. Kinh Ðức Chúa Trời sai Thánh Thiên Thần truyền tin, hoặc Lạy Nữ vương Thiên đàng.
10. Kinh Lạy Linh Hồn Chúa Kitô.
16. Kinh Tin kính các Thánh Tông đồ (Tôi tin kính ÐCT là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất).
19. Kinh Vực sâu.
29. Kinh Cầu Tên Ðức Chúa Giêsu, kinh Cầu Trái tim Chúa, Máu Thánh Châu Báu Chúa, kinh Cầu Ðức Bà, kinh Cầu ông Thánh Giuse, kinh Cầu Các Thánh.
30. Kinh Ngợi khen (Magnificat, Linh hồn tôi ngợi khen Chúa).
32. Kinh Hãy nhớ (Lạy Thánh Nữ Ðồng trinh Maria là Mẹ rất nhân từ).
33. Thánh vịnh Thống hối 50.
37. Kinh cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục, Tu sĩ (được giáo quyền chuẩn nhận).
38. Dùng ít phút cầu nguyện thầm trong trí.
39. Lời nguyện cho Ðức Giáo Hoàng (Ta hãy cầu xin cho Ðức Giáo Hoàng...).
44. Cầu nguyện cho Giáo hội hợp nhất (theo bản kinh được chấp nhận).
46. Lời cầu nghỉ yên (Lạy Chúa xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời, và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy).
51. Kinh Lạy Nữ vương (Lạy Nữ vương Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống).
54. Tôn kính Thánh theo ngày chỉ trong lịch Công Giáo (đọc lời nguyện theo sách lễ, hoặc đọc kinh kính vị Thánh ấy).
57. Kinh Trông cậy (Chúng con trông cậy rất Thánh Ðức Mẹ Chúa Trời). 

4. CÁC VIỆC CÓ TIỂU XÁ
1. Tiểu xá ban chung cho tín hữu nào trong khi làm việc bổn phận và chịu gian nan ở đời, hướng tâm trí lên cùng Chúa, khiêm nhường trông cậy thầm đọc một lời cầu xin (để giữ và gia tăng sự kết hợp với Chúa Kitô), bởi Chúa đã phán: 
          Matthêu 7,7-8 "Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ thấy, hãy gõ sẽ mở".
          Matthêu 26,40 "Tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ",
         1 Corinhtô 10,31 "Dù anh chị em ăn uống hay làm việc gì, nhớ làm bởi vinh Danh Chúa".
         Công đồng Vaticanô 2, Hiến chế Giáo hội số 41, Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân số 4 cũng khuyên những lời tương tự.
2. Tiểu xá ban chung cho tín hữu trong tinh thần đức tin và tình thương, hy sinh sức khỏe, hoặc của cải giúp anh chị em túng cực (của ăn, áo mặc, an ủi), bởi Chúa đã phán:
        Matthêu 25,35-36 "Khi Ta đói, ngươi đã cho Ta ăn... Khi Ta yếu ngươi đã thăm viếng".
       1 Gioan 3,17-18 "Ai có của, khi thấy anh chị em mình túng cực mà khóa lòng lại, hỏi kẻ ấy có thật lòng yêu mến Chúa chăngì"
       Công đồng Vaticanô 2 trong Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân số 8, số 31, Hiến chế Giáo hội trong thế giới ngày nay số 93 cũng khuyên những lời tương tự.
3. Tiểu xá ban chung cho tín hữu trong tinh thần thống hối, tự nguyện từ bỏ những cái được phép, những cái thỏa lòng mình (để cầm hãm dục vọng, bắt xác thịt sống nghèo và khổ sở như Chúa Kitô), bởi Chúa đã phán:
       Luca 9,23 "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác Thánh giá mình hằng ngày mà theo Ta".
      Thư Roma 8,13 "Nếu bởi tinh thần, anh chị em giết chết việc xác thịt, anh chị em sẽ được sống".
      Công đồng Vaticanô 2 trong Sắc lệnh Huấn luyện Linh mục số 9, Hiến chế Giáo hội số 10, số 41 cũng có những lời khuyên tương tự.
15. Rước lễ thiêng liêng (Lạy Ðức Chúa Giêsu, con tin thật Chúa ngự trong Phép Mình Thánh, con kính mến Chúa trên hết mọi sự, cùng ước ao chịu lấy Chúa trong linh hồn con...)
20. Dạy giáo lý, hoặc học giáo lý Công Giáo.
34. Tham dự làm Tuần Chín tại nhà thờ trước lễ Sinh nhật Chúa, lễ Hiện Xuống, lễ Mẹ Vô Nhiễm.
45. Dự Cấm phòng tháng.
55. Làm dấu Thánh giá: Nhân danh Cha và con và Thánh Thần Amen.
Admin suy tầm
Chuyên mục: , ,

31 thg 10, 2012

Ngày 01 tháng 11: Lễ Các Thánh - Lễ Trọng

Chia sẻ bài viết này:

La-ToussaintI. Ghi nhận lịch sử - phụng vụ

Lễ Các Thánh Nam Nữ có lẽ bắt nguồn ở vùng Celtique; trong thực tế, lễ này đã được Tổng giám mục Salzbourg là Đức cha Arnon tại công đồng Riesbach năm 798 chứng thực là mừng vào ngày 1 tháng 11. Đức cha Arnon, vốn là học trò của tu sĩ Alcuin († Tours năm 804), được thầy mình khen ngợi năm 800 vì đã ấn định lễ này vào ngày đầu tháng 11. Các sách Tử đạo và các sách Bí tích của người Pháp và Anh – tu sĩ Alcuin là người gốc Anh – cho thấy lễ này đã có từ cuối thế kỷ VIII ; sau đó, vào thế kỷ IX, qua sắc lệnh của vua Louis Sùng Đạo năm 833, lễ này được mở rộng sang lãnh thổ của người Francs.

Tại Rôma, ngày 13 tháng 5 năm 610, Đức Giáo Hoàng Boniface IV được phép hoàng đế Phocas đổi đền thờ Pantheon thành một thánh đường dâng kính Đức Mẹ Thiên Chúa và toàn thể các thánh tử đạo. Từ đó, cứ ngày 13 tháng 5 hằng năm, theo một truyền thống Syria, người ta mừng lễ tất cả các thánh tử đạo. Ngày lễ này trùng với mùa phục sinh không chỉ nhắc nhớ đến tục lệ Syria, mà còn nhắc đến ý nghĩa vượt qua trong chiến thắng của các thánh tử đạo. Tuy nhiên, đến thời Đức Giáo Hoàng Grégoire IV (827-844) lễ này được dời vào ngày 1 tháng 11 và mừng kính tất cả các thánh nam nữ, được phong thánh hay không. Vào thế kỷ X, hôm trước ngày lễ này là một ngày ăn chay và canh thức, và ở thế kỷ XV, lễ này còn có một tuần bát nhật.

II. Thông điệp và tính thời sự

Có thể tìm thấy nhiều chủ đề trong các bản văn phụng vụ lễ trọng mừng các thánh, không chỉ mừng các thánh đã được tôn phong, mà tất cả mọi người đã được cứu rỗi.

a. Lời Nguyện của ngày, khi ca mừng sự thánh thiện của tất cả những người được chọn, nhắc chúng ta nhớ rằng "có vô số vị thánh đang chuyển cầu cho chúng ta". Về điều này, Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo trích dẫn Lumen Gentium (số 50) : "Vì thực sự đang được kết hợp mật thiết hơn với Đức Kitô, các công dân trên trời góp phần làm cho Hội Thánh được thêm kiên vững trong sự thánh thiện . . . Các ngài không ngừng cầu xin với Chúa Cha cho chúng ta, bằng cách dâng hiến những công đức các ngài đã lập được khi còn ở trần gian, nhờ Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là Đức Giêsu Kitô . . . Vì thế sự săn sóc ân cần của các ngài là trợ giúp lớn lao nhất cho tính yếu hèn của chúng ta." (Sách Giáo Lý . . . số 956). Chúng ta cũng có những lời thánh Đaminh khuyên nhủ các tu sĩ của ngài: "Đừng thương khóc cha ; cha sẽ làm ích nhiều hơn cho các con sau khi cha chết, và sẽ giúp các con hiệu quả hơn là lúc cha còn sống", và lời của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu: "Con sẽ ở trên trời để mưu ích cho trần gian."

b. Các thánh được ở gần Thiên Chúa Lời (Nguyện trên lễ vật), các ngài sung sướng dự vào "bàn tiệc" dọn sẵn cho các ngài trong nhà Chúa (Lời Nguyện sau hiệp lễ). "Đoàn người đông không thể đếm hết này" tạo nên "thành đô thiên quốc, thành Giêrusalem Mẹ chúng ta trên trời" không ngừng hát bài ca chúc tụng Thiên Chúa (Kinh Tiền tụng). Các thánh tạo thành "bức phù điêu khổng lồ của niềm vui / tình yêu rạng rỡ ngàn khuôn mặt / các ngài vẽ lên, trong ánh sáng / một hình ảnh vinh quang duy nhất : Chúa Giêsu Kitô." Các ngài hát mừng Đấng Cứu Thế đã chia sẻ thử thách với các ngài và các ngài tạ ơn Người vì đã lấy máu mình mà thanh tẩy các ngài, và nuôi dưỡng các ngài bằng bánh sự sống (Giờ Kinh Sách, Đáp ca sau bài đọc 1). Trong Thánh Thể, Chúa đã thánh hóa những kẻ Người chọn "trong tình yêu viên mãn của Người". Và bí tích này là nơi để chúng ta hiệp thông với các thánh, là bàn tiệc mà chúng ta được "tiếp nhận khi còn đang lữ hành" trước khi được nhận vào bàn tiệc trên trời (Lời Nguyện sau hiệp lễ).

c. Các thánh "đã noi gương Chúa Giêsu trong đời sống các ngài" trước khi được nhận triều thiên vinh quang (Kinh Nguyện Thánh Thể riêng). Chúa Giêsu đã công bố hiến chương của sự thánh thiện là Các Mối Phúc thật được đọc trong Tin Mừng thánh lễ. Cũng vậy, bài thánh thi của Kinh Chiều 1 công bố người hạnh phúc là "người tay sạch lòng thanh... người hiền lành...người cảm nghiệm ân huệ của nước mắt...người đói khát công chính...người chịu đổ máu mình và tha thứ...người không một vết nhơ ... người rắc gieo hoà thuận...và tất cả những ai được xét là xứng đáng chịu sỉ nhục vì thập giá".

Thánh Polycarpe viết : "Chúng ta thờ lạy Chúa Kitô, vì Người là Con Thiên Chúa ; còn đối với các thánh tử đạo, chúng ta yêu mến các ngài vì các ngài là môn đệ và người noi gương Chúa Ki-tô... , ước chi chúng ta được làm bạn với các ngài" (Sách Giáo lý, số 957). Thật vậy, vì được sống gần Thiên Chúa, các thánh tử đạo và mọi người Chúa chọn đều cầu nguyện cho chúng ta : "Các ngài rất có thế lực trong cuộc đời chúng ta" (Sách Lễ Rôma).

ENZO LODI

(Lm hạt Xóm Chiếu dich)

http://www.youtube.com/watch?v=jf6zg3XXNT8
Chuyên mục: ,

27 thg 10, 2012

Tân phúc âm hóa cả tâm lẫn trí

Chia sẻ bài viết này:

Tan Phuc Am hoa

Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã giải thích ý nghĩa của từ "tân Phúc âm hóa" trong bài giảng thánh lễ bế mạc kỳ tĩnh tâm thường niên lần thứ 7 của Gia đình Thánh Tâm cụm 4 của giáo phận Vinh chiều ngày 19/10/2012. Sau đây là nguyên văn bài giảng đó. [Tựa đề là của ban biên tập].

Một sự trùng hợp rất ý nghĩa khi lần tĩnh tâm năm nay của Gia đình Thánh Tâm cụm 4 đã diễn ra trong bầu khí của Năm Đức Tin và vào thời điểm Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới đang nhóm họp tại Roma về đề tài "Tân Phúc Âm Hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo". Có thể nói đây là một trong những chủ đề quan trọng được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolo II khai triển trong các văn kiện, cũng như trong các chuyến viếng thăm mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ châu Latinh, châu Phi và châu Âu.

Nhưng "tân Phúc âm hóa" là gì? Đâu là tầm quan trọng của nó trong Giáo Hội hôm nay?

Về phương diện lịch sử, diễn ngữ "Tân Phúc Âm Hoá" có một xuất xứ khá rõ rệt. Trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ba Lan lần I, Đức Gioan Phaolô II đã dành ba ngày cuối cùng cho Tổng giáo phận Cracovie, nơi Ngài từng là Tổng Giám mục trước khi được bầu đảm nhận nhiệm vụ kế vị thánh Phêrô. Sáng thứ Bảy, ngày 9 tháng 6 năm 1979, ngài đến Mogila, một tu viện Xitô cổ kính, được xây dựng từ thế kỷ XIII, để gặp gỡ giới công nhân. Tu viện tọa lạc trên một sườn đồi, đối diện với Nowa Huta, một thành phố thợ thuyền Xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Ba Lan, nơi sinh sống của khoảng 200.000 dân, đa số là công nhân trẻ.

Đối diện với thực trạng bi thảm của dân tộc Ba Lan, Đức Gioan Phaolô II yêu cầu phải trở về với truyền thống văn hóa dân tộc. Trong bài giảng lịch sử hôm đó cũng như một số bài diễn văn sau đó, hai từ "tân" và "tái phúc âm hoá" được sử dụng đồng thời và lẫn lộn. Một số ý kiến phản hồi đề nghị phân biệt "tân phúc-âm-hóa" với "tái phúc-âm-hóa", bởi vì hạn từ "tái phúc-âm hóa" sẽ gây hiểu lầm là công cuộc rao giảng Tin Mừng trước đây thiếu sót, sai lạc hoặc không còn hiệu năng, cho nên phải xóa bàn làm lại tất cả và từ đầu. Có lẽ đề nghị này đã được Đức Gioan Phaolô II tiếp thu. Điều chắc chắn là chỉ ít lâu sau, trong các văn kiện chính thức người ta chỉ thấy diễn ngữ "tân phúc âm hoá".

Đặc biệt nhất, ngỏ lời trước hội nghị các Giám-mục Mỹ châu La-tinh họp tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 9 tháng 3 năm 1983, Đức Gioan Phaolô II xác quyết rõ rệt quan niệm "tân phúc âm hoá" nói trên: "Việc kỷ niệm 500 năm loan báo Tin Mừng (tại Mỹ châu La-tinh) sẽ có một ý nghĩa tròn đầy nếu đi kèm với hành động dấn thân của quý chư huynh Giám mục, cùng với hàng linh mục và giáo dân; dấn thân, không phải để tái phúc-âm-hóa (re-evangelización), mà là tân phúc-âm-hóa (nueva evangelización). Mới trong sự nhiệt thành, trong phương pháp, trong lối diễn tả".

Tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới về đề tài "Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo" đã lấy lại nguyên văn định nghĩa trên. Ý nghĩa chữ "tân" hay "mới" ở đây không đề cập đến bản chất và nội dung của Tin Mừng, vì Lời Chúa hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn bất biến, vẫn y nguyên, thiên thu vạn đại. Cái mới nói đây đúng hơn ám chỉ lòng nhiệt thành của các tín hữu trong hăng say dấn thân sống và loan báo Lời Chúa, cũng như trong việc sử dụng phương pháp, ngôn ngữ và cách thế diễn tả Tin Mừng thích hợp với nhu cầu thời đại và con người hôm nay.

Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nhận định sâu sắc những thách đố mà thời đại đa văn hóa, đa phức tôn giáo và toàn cầu hóa đang đặt ra cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ngài nêu rõ sự phức tạp, chập chùng ánh sáng và bóng tối mà những biến chuyển thời đại cống hiến cho chúng ta: "Xét về một mặt, nhân loại đã được hưởng những lợi ích không thể phủ nhận từ những thay đổi này, và Hội Thánh cũng đã rút ra được từ đó những kích thích để làm chứng cho niềm hy vọng mình ấp ủ; nhưng mặt khác, đã có một sự mất mát đáng lo ngại trong ý thức về sự linh thánh, nó thậm chí chất vấn cả những nền tảng mà có thời được coi là không thể lay chuyển, như niềm tin vào Đấng Sáng Tạo và Quan Phòng, mạc khải về Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất, và một sự hiểu biết chung về các kinh nghiệm cơ bản của con người: đó là sự sinh ra, sự chết, đời sống gia đình, và sự qui chiếu về một luật đạo đức tự nhiên".

Đối diện với những thay đổi sâu rộng về khoa học kỹ thuật, xã hội, văn hoá..., các cộng đoàn Kitô giáo một lần nữa cần hăng hái đứng lên, can đảm dấn thân, cố gắng tìm ra thời giờ, nghị lực, phương tiện, ngôn ngữ và kinh nghiệm tôn giáo mới ngõ hầu đem Chúa đến cho con người hôm nay. Trách nhiệm này giả thiết khả năng canh tân kinh nghiệm đức tin của các cộng đồng Kitô giáo. Nói rõ hơn, để có thể loan báo Tin Mừng cho người khác, trước hết chúng ta phải Tin Mừng hóa bản thân, gia đình và xã hội.

Về lại Linh địa Trại Gáo trong Năm Đức tin của Giáo hội, tất cả chúng ta được mời gọi nghiêm chỉnh nhìn lại bản thân, kiểm điểm lại cuộc đời, kiểm tra lại cách thức "giữ đạo" của chúng ta. Phải chăng cho đến nay chúng ta chỉ giữ đạo theo thói quen, nặng hình thức, vụ luật, thiếu gương lành, thiếu tình bác ái yêu thương. Vì vậy, cách "giữ đạo" của chúng ta chưa có tính thuyết phục và sức lan tỏa cho người khác.

Thư Mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định sâu sắc: "Tại Việt Nam, phần đông các tín hữu vẫn trung thành dự lễ Chúa nhật, kể cả ngày thường. Đa số các gia đình công giáo vẫn là cái nôi nuôi dưỡng và thông truyền đức tin cho con cái. Tuy nhiên, nơi một số người, việc giữ đạo chỉ theo tập tục và thói quen, chưa trở thành xác tín cá nhân và động lực cho những chọn lựa quan trọng trong đời sống. Nơi một số người khác, đời sống đức tin quá thiên về tình cảm, chỉ giới hạn vào một số thực hành nghi lễ và luân lý. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thời đại đề cao lối sống vật chất và hưởng thụ, nhiều người trẻ công giáo ngày nay cảm thấy bị lung lạc trong đời sống đức tin, nhiều đôi vợ chồng trẻ không còn ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái".

Trong Năm Đức Tin này, Hội đồng Giám mục thiết tha kêu gọi "mọi thành phần Dân Chúa tại Việt Nam củng cố đức tin của mình, hoán cải và đổi mới đời sống, trở về với Chúa là Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới. Khi chúng ta tái khám phá niềm vui đức tin, chúng ta sẽ hăng say dấn thân cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa loan báo Tin Mừng cho 93% người Việt Nam chưa biết Chúa, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập mọi lãnh vực đời sống, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh theo những giá trị Tin Mừng và truyền thống văn hoá của dân tộc".

Đây là một cơ hội hồng phúc giúp chúng ý thức rằng một đức tin toàn diện phải bao gồm các mặt: tuyên xưng, cử hành, sống và làm chứng. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, chúng ta cần vun đắp giáo phận, giáo xứ, hội đoàn và nhất là gia đình vững mạnh. Thật vậy, "trong suốt lịch sử mấy trăm năm của Giáo Hội công giáo tại Việt Nam, gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức. Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp này của gia đình công giáo. Hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương. Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta".

Nếu sứ điệp trên được gửi đến tất cả các gia đình Công giáo, thì chắc chắn nó sẽ mang một ý nghĩa đặc biệt cho Gia đình Thánh Tâm nói riêng. Thiết tưởng dịp tĩnh tâm này là cơ hội tốt để các thành viên Gia đình Thánh Tâm nhìn lại mối tương quan của mình đối với Chúa và với anh chị em đồng loại. Chúng ta chỉ khư khư giữ bằng được một số lễ nghi tập tục hay cố gắng sống và loan báo Tin Mừng? Ơn gọi làm môn đệ Đức Kitô đòi hỏi chúng ta phải sống tốt và gương mẫu hơn người khác, thì phải chăng mỗi thành viên của Gia đình Thánh Tâm có nhiệm vụ sống tốt hơn nữa. Chính vì vậy, không thể chấp nhận hiện tượng các thành viên xuống cấp, gây gương mù và xáo trộn trong cộng đồng. Hơn ai hết, phải chăng các thành viên Gia đình Thánh Tâm phải hăng say loan báo Tin Mừng cho người chưa biết Chúa, với nhiệt huyết, phương pháp và ngôn ngữ mới?

Nguyện xin Thiên Chúa, nhờ lời bầu cử của Đức Maria, Đấng được chúc phúc vì đã tin và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúc lành cho toàn thể giáo phận Vinh, cũng như các thành viên của Gia Đình Thánh Tâm hiện diện cũng như vắng mặt.

Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp

Nguồn: conglyvahoabinh

Chuyên mục: , ,

10 thg 10, 2012

Sống Đạo Năm Đức Tin 2012-2013

Chia sẻ bài viết này:
1abLogo2Sống Đạo Năm Đức Tin 2012-2013
Bài thuyết giảng của LM. Marcos A. Ramos OP,
Cha Bề Trên Dòng Đa-Minh Canada tại Ontario
kiêm Tu Viện Trưởng St. Thomas Aquinas Priory.

    Thưa qúy anh chị em;
Trong sách Tông Đồ Công Vụ (14-27) đã chép; “ Khi hai ông Phao-lô và Banaba tới nơi, hai ông tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các Dân ngoại đón nhận Đức Tin...” Vậy ,Thiên Chúa đã mở Cánh Cửa Đức Tin cho các dân ngoại.

Ngày 11 tháng Mười năm 2011, Đức Giáo Hoàng Bênêdictô thứ 16 đã ban hành Tự sắc Porta Fidei để thiết lập và khởi đầu Năm Đức Tin sẽ được tiếp tục cho đến Lễ Chúa KiTô-Vua Vũ Trụ vào ngày 24 tháng Mười Một năm 2013. Năm Phụng Vụ đặc biệt này sẽ được ghi nhớ bởi 2 Lễ kỷ niệm; năm 2012 là Năm Kim Khánh, kỷ niệm 50 năm ngày khai mạc Công Đồng Vatican II (1962-2012) và cũng là ngày kỷ niệm 20 năm xuất bản cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo (1992-2012); vốn là một công trình quan trọng của Giáo Hội Công Giáo Hoàn vũ trong thời kỳ sau Công Đồng Vatican II.

Huy hiệu thiết kế để diễn tả về “ Năm Đức Tin “ được tạo thành bởi hình 1 con thuyền (là biểu tượng của Giáo Hội Công Giáo Hoàn vũ) với 1 cột buồm chính có biểu tượng là cây Thánh Giá với mảnh buồm căng gió có ghi 1 hàng chữ IHS có nghĩa là Đức Chúa KiTô, và cánh buồm hình tròn là biểu tượng cho Mình Thánh Chúa. Các Thánh Lễ chào mừng Năm Đức Tin sẽ được mở đầu bằng một Thánh Lễ Đại Triều vào ngày 11 tháng Mười năm 2012, và 1 Thánh Lễ Đại Kết sẽ được long trọng cử hành tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phao-lô Tông Đồ ở Ngoài Thành Rôma vào ngày 25 tháng Giêng năm 2013.Tất cả các Giáo Xứ và Nhà Thờ Công Giáo trên khắp thế giới đã được khuyến bảo là nên tổ chức 1 ngày Chầu Kính Thánh Thể nhân dịp Lễ Kính Mình và Máu Thánh Chúa vào ngày 02 tháng Sáu, năm 2013.

Đức Hồng Y William Levada cũng ban hành một văn kiện Tòa Thánh của Thánh Bộ Giáo Lý & Đức Tin mang tên; “ Các khuyến nghị về Phụng Vụ ” nhằm đưa ra các đề nghị tổ chức và thực hiện các chương trình nghị sự, cách thực hành để biến cho việc cử hành Năm Đức Tin trở thành một cảm nghiệm đáng ghi nhớ. Văn kiện này cũng dành một phần nhấn mạnh đặc biệt dành cho các giáo sĩ, giáo lý viên , giáo viên trong trường học Công Giáo nên làm quen hơn nữa với các văn kiện của Công Đồng Vatican II và cuốn sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo nhằm để cho các nguồn tài liệu nói trên trở nên thuận tiện hơn nữa trong việc thuyết giảng, hướng dẫn, và giảng dậy về Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Cũng trong văn kiện này, Tòa Thánh Vatican cũng mạnh mẽ khuyến cáo mọi gia đình Công Giáo nên có sẵn 1 cuốn sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo bản in từ năm 1992.
Từ việc đọc lại tất cả các văn kiện liên quan đến Năm Đức Tin, tất cả chúng ta ; vừa là phần tử của Hội Thánh Công giáo Hoàn vũ vừa là thành viên trong Dòng Thuyết Giáo - thuộc về gia đình của Thánh phụ Đa-Minh - chúng ta tìm thấy nhiều cách thế phong phú nhằm làm cho Năm Đức Tin này có ý nghĩa hơn trong các phần Phụng Vụ, Mục vụ, và Nguyện Kinh Thần vụ của chúng ta. Thí dụ như nhân Năm Đức Tin này chúng ta suy niệm, cải tiến các hoạt động Tông đồ-Xã hội của Dòng. Năm “Cánh Cửa Đức Tin - Porta Fidei “ mà chúng ta sắp long trọng cử hành từ ngày 11/10/2012 tới đây nên được suy tư và thể hiện một “ Chính sách Mở Cửa “ - Door opening policy) tại Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Dòng Ba Đa-Minh Việt Nam Toronto cũng như tại các Giáo Xứ khác.

Chúng ta cần phải trở thành một Cộng Đoàn- Cộng Đồng tín hữu luôn mở rộng vòng tay- chào mừng đón nhận mọi người, để tuyên xưng Đức Tin vào Hội Thánh Chúa mà chúng ta đã long trọng khấn hứa và thể hiện. Tất cả chúng ta trong các Ơn Gọi đặc biệt và trong các mục vụ riêng biệt cũng có thể mở rộng Cánh Cửa Đức Tin của chính chúng ta cho tất cả những ai đã khô khan, nguội lạnh với Thiên Chúa, đã xao nhãng việc thực hành Đức Tin Công Giáo kể cả những người bỏ đạo - lười đến Nhà Thờ hay không đến Nhà Thờ nữa. Tất cả những Hướng dẫn viên, hay thành viên trong Ban Tiếp Tân của Giáo Xứ, Nhà Thờ nhiều khi chính là những khuôn mặt - là những tiếng nói đầu tiên mà những người mới đến Nhà Thờ sẽ gặp họ , sẽ lắng nghe họ trước hết. Mục vụ hướng dẫn, tiếp tân và chào đón này nên được hết thảy mọi giáo dân trong Giáo Xứ, và mọi thành viên của Dòng Đa Minh cùng làm - bất kể là tuổi tác già hay trẻ , lớn nhỏ, trình độ học vấn giáo dục khác nhau. Điều này cũng là một cơ hội tốt để suy niệm về cách thế chúng ta chào đón và tiếp nhận mọi người đến tham dự trong các Thánh Lễ, các biến cố hay kỷ niệm đặc biệt tại Giáo Xứ và Dòng Đa-Minh của chúng ta đã thể hiện như thế nào? Chúng ta đã mời gọi khuyến khích hay chúng ta đã ngăn cản những người muốn nhận biết Thiên Chúa và thiếu tích cực trong việc khuyến khích những người muốn đến với Hội Thánh Chúa?

Đã có nhiều tín hữu Công Giáo trong nhiều cảnh ngộ khó khăn , hay vì nhiều lý do khác nhau đã xao nhãng việc sống đạo và rời bỏ Cộng Đoàn Giáo xứ. Đây cũng là một điều tốt lành khi chúng ta biết dùng Năm Đức Tin này như một sự suy tư và phân tích cẩn thận xem có lý do nào đã khiến cho những tín hữu giáo dân đó không còn tham gia trong các việc phụng vụ, công tác tông đồ xã hội hay tham dự các sinh hoạt chung của Giáo xứ và Cộng Đoàn?

Lý do có thể là có lẽ những người này đang sống trong vùng các lân cận chứ không ở ngay trong khu vực địa bàn của Giáo xứ chúng ta. Cũng có thể là tại bởi tự chính nơi chúng ta; những tín hữu Công Giáo đã thiếu Đức Bác ái, đã chưa mến yêu người đúng và đủ nghĩa ; hay chưa làm gương tốt trong cuộc sống đạo và sống đời nên sự khuyến khích của chúng ta chưa đủ để có thể thôi thúc họ trở về cùng Thiên Chúa và tích cực tham gia vào sinh hoạt của Giáo Xứ ngay được. Đây cũng là cơ hội tốt cho chúng ta nghĩ về những người khác trong Giáo Xứ, trong Cộng đồng và chúng ta hãy sẵn lòng mời họ đến nhà chúng ta cùng chung vui một bữa cơm tối thân mật và đối thoại, chia xẻ để giúp đỡ lẫn nhau.

Cách thế hướng ngoại, mở rộng tấm lòng và vòng tay tiếp đón người khác có thể là một phương thế mời gọi mọi người - nhất là những người khô khan, nguội lạnh tham dự các Thánh Lễ; đó chính là một phần phụng vụ để cử hành Năm Đức Tin này. Chúng ta phải luôn nhớ rằng Đức Chúa KiTô luôn hiện diện ở khắp mọi nơi và trong mọi sự: đó là tín điều cần được trở thành cảm nghiệm lớn nhất về con người có đạo Công Giáo của chúng ta. Chúng ta không nên sợ hãi gì cả khi tuyên xưng Đức Tin Công Giáo trong công đồng cư dân địa phương nơi chúng ta cư ngụ, sinh hoạt và làm việc.

Lại cũng có những thành viên khác của Hội Thánh Chúa, và thuộc về Giáo Xứ, Cộng đòan của chúng ta nhưng họ vắng mặt hay ít đến sinh hoạt chỉ vì tuổi già hay bệnh tật yếu đau khiến họ phải ở nhà hay sống xa cách chúng ta. Những người này thật ra gần gũi với chúng ta nhiều hơn là chúng ta nghĩ rằng họ đã xa cách giáo xứ và cộng đoàn. Vậy chính chúng ta phải mang Hội Thánh của Chúa, phải đưa Giáo Xứ của chúng ta đến với họ và với những người đang sống gần Cộng Đoàn hay Dòng của chúng ta: tự chính chúng ta phải tuyên xưng Đức Tin Công Giáo trên khắp các nẻo đường trong khu vực cộng đoàn Giáo Xứ và vùng lân cận; và chính chúng ta phải trở thành những sứ giả của Tin Mừng theo Đức Chúa Giêsu KiTô - chúng ta phải thuyết giảng và sống gương mẫu Đức Tin một cách rõ ràng, công khai sống đạo đầy đủ ý nghĩa. Chính nhờ bởi Ơn Gọi đặc biệt và đoàn sủng Dòng Đa Minh mà chúng ta được sai đi để rao truyền Lời Chúa và sống Đức Tin trong nhiều cách thế chứ không đơn thuần chỉ để là xây dựng Hội Thánh, mở mang Giáo xứ, và phát triển Dòng.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo định nghĩa; “ Đức Tin là sự gắn bó mật thiết cá nhân của toàn thể con người phàm nhân đến với Thiên Chúa - là Đấng tự mặc khải chính Người cho phàm nhân chúng ta. Đức Tin liên kết một sự đồng ý về mặt tri thức , và một ước muốn chấp thuận hướng tới Thiên Chúa- Đấng tự mặc khải về chính Thiên Chúa thông qua các Lời phán dạy và kỳ công Người đã thực hiện.” Đức Tin là ân sủng, là hồng ân, là qùa tặng mang tính cách siêu nhiên ; và chỉ có chính Thiên Chúa mới là Đấng Ban phát Đức Tin - vì vậy, để Tin và có Đức Tin thì người phàm nhân phải được Đức Chúa Thánh Thần ban ân phù trì, nâng đỡ.

Hành động của sự Tin tưởng là hành vi có liên quan đến quyền Tự do và có ý nghĩa về nhân phẩm của con người nhân loại. “ TIN” cũng là một hành động có chiều kích quy hướng về Hội Thánh Chúa. Giáo Hội địa phương hay ở nơi các Nhà Thờ trong Hội Thánh Chúa chính là công cụ để triển nở, thăng tiến Đức Tin của chúng ta. Đấy chính là nơi chúng ta học biết và cảm nghiệm, chia xẻ trong cộng đoàn về Hồng Ân Đức Tin mà chúng ta đã được ban phát và lãnh nhận.

Đức Tin là sự cần thiết cho công cuộc cứu độ ; thánh Tôma Akinô, Tiến sỹ Hội Thánh đã phát biểu ; “ Đức Tin chính là sự nếm thử trước, sự mường tượng trước ra được bằng sự nhận biết rằng Đức Tin sẽ khiến cho chúng ta được hưởng ơn Chúa chúc phúc lành trong cuộc đời sắp đến.”

Một khía cạnh khác có tầm quan trọng đặc biệt trong Năm Đức Tin này chính là ở sự học tập và suy niệm sâu sắc hơn nữa về các điều Chân Lý được thể hiện trong Kinh Tin Kính của chúng ta và đó cũng chính là sự Tuyên xưng Đức Tin công khai. Truyền thống KiTô Giáo vẫn luôn kiên quyết nhắc nhở các thành viên của Hội Thánh Chúa phải thuộc lòng Tuyên xưng Kinh Tin Kính; thánh giáo phụ Âu-Tinh (Augustine) đã thể hiện tầm quan trọng của Kinh Tin Kính một cách tuyệt đẹp trong đoạn văn diễn giảng sau đây:
   
      “ Kinh Tin Kính là biểu hiện của mầu nhiệm thánh mà tất cả anh chị em cùng lãnh nhận được và nay từng người một trong anh chị em đọc lên, là những Lời Đức Tin của Mẹ Giáo Hội vốn được xây dựng vững chắc trên nền tảng vững bền muôn thuở là chính Đức Chúa KiTô. Vì vậy, tuy anh chị em đã lãnh nhận và đọc Kinh Tin Kính ấy, nhưng trong tâm trí anh chị em phải luôn giữ cho Kinh Tin Kính luôn luôn sống thực. Anh chị em phải lập lại lời Kinh này trước khi đi nghỉ, suy nghĩ đến Kinh Tin Kính khi hoạt động trên các đường phố và chớ quên nguyện Kinh Tin Kính trong suốt bữa ăn; và ngay cả trong khi anh chị em đang ngủ - tâm trí của anh chị em vẫn phải tỉnh thức trong lời Kinh Tin Kính. ”


Hành động công khai tuyên xưng Đức Tin trong cùng một lúc vừa là sự cam kết dấn thân công khai việc tuyên xưng Đức Tin và thực hành Giáo Lý Đức Tin trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Đức Tin Công Giáo của chúng ta không bao giờ là chuyện cá nhân và Đức Tin chưa bao giờ là một điều riêng tư. Bởi vì sự tuyên xưng Đức Tin của chúng ta đòi buộc một trách nhiệm xã hội ; là sự đồng ý tin tưởng một cách tự do vào những điều gì chúng ta tin, tự do chấp nhận và đồng ý với những điều chúng ta tin chắc.


Hành trình Đức Tin của chúng ta luôn tiến về phía trước : dĩ nhiên ấy phải là nơi có ân sủng của Đức Chúa Thánh Thần ban và cho phép chúng ta củng cố những cam kết dấn thân, kiện cường Đức Tin - chuẩn bị cho sứ mạng truyền giáo của chúng ta. Hành trình Đức Tin này được thăng tiến và hỗ trợ thêm khi chúng ta tỏ rõ lập trường nhận biết rất nghiêm túc và long trọng về Đức Tin của chính chúng ta.
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 tuyên bố; “ Việc hiểu biết Đức Tin mở ra một Cánh Cửa dẫn vào toàn bộ Mầu nhiệm Cứu độ được Thiên Chúa mặc khải. Vì vậy, sự chấp thuận ấy được biểu lộ điều bao hàm này là, khi chúng ta tin, chúng ta tự do tự nguyện chấp nhận toàn thể Mầu nhiệm Đức Tin, bởi vì Đấng Bảo đảm Chân Lý - tính chất xác thực của những điều chúng ta tin - là chính Thiên Chúa – Đấng tự mặc khải và cho phép được nhận biết về mầu nhiệm Tình Yêu vô biên của Chúa.”

Trong Năm Đức Tin này có một yếu tố sẽ trở thành rất quan trọng để suy xét lại cách nghiên cứu và học tập cẩn thận hơn nữa về cả Lịch sử Đức Tin của chúng ta cũng như sự hợp thời đối với việc hiểu biết đúng về Giáo Hội của chúng ta hiện nay. Tất cả chúng ta đều được kết nối với một truyền thống KiTô Giáo vốn đã và đang được thiết lập bởi cả những thánh nhân và những người gây nên tội lỗi (cũng là qua sự thánh thiện và tội lỗi) là những người đã có những đóng góp trong việc phát triển các công cuộc phụng vụ, tận hiến và mục vụ ; để trở thành di sản truyền thống của Giáo Hội cho đến tận ngày hôm nay.
Tất cả những tiến trình này sẽ thành công nếu chúng ta cử hành Năm Đức Tin này như một phương thế tôn vinh Đức Chúa Giêsu KiTô ngay tại trung tâm điểm đời sống của chúng ta; “... bởi vì Đức Chúa Giêsu là Đấng Khai mở và kiện toàn Đức Tin của chúng ta ... “ (trích thư thánh Phê-rô Tông đồ gởi tín hữu Do Thái 12:2). Đức Chúa Giêsu là Đấng đã hy sinh chịu chết và đã sống lại để cứu độ chúng ta . Đức Chúa Giêsu là Đấng làm gương mẫu cho vô vàn những tín hữu có Đức Tin trong suốt chiều dài lịch sử của con người phàm nhân.

Nhờ Đức Tin: mà cuộc đời của Đức Trinh Nữ Maria đã biến đổi qua lời đáp Xin Vâng (Magnificat, Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa; Luca 1:46-55); các thánh Tông đồ, các môn đệ, các Thánh Tử đạo trong đó Các Đấng Thánh Tử đạo Việt Nam và Canada, các thánh Dòng Đa-Minh, và biết bao nhiêu Tín hữu khác trong suốt Lịch sử Giáo Hội Công Giáo Hoàn vũ.

Với Đức Tin: trong Chúa KiTô sống thực cũng là Hy vọng, là Đức Cậy Trông và là nền tảng vững chắc muôn thuở cho chúng ta; là Nguồn mạch mọi hoan lạc chẳng hề vơi của chúng ta.

Bởi Đức Tin: là Nguồn mạch sức mạnh và dẫn dắt cho biết bao tín hữu KiTô Giáo trong công cuộc giúp đỡ những người nghèo khổ và bị gạt ra bên lề cuộc đời và bị đạp xuống dưới đáy xã hội; “ ... Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh chị em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho chính Thầy. “ (trích Matthêu 25:40)

Vì vậy, Năm Đức Tin này là một lời mời gọi tất cả mọi người chúng ta đổi mới lại cam kết dấn thân và khấn hứa cùng với Thiên Chúa Đấng Hằng sống như đã được thể hiện bởi gương mẫu và giáo huấn của chính Đức Chúa Giêsu KiTô; và trở nên sinh động cùng với các gương mẫu đầy vui mừng. Vì Đức Tin mà chúng ta đã được lãnh nhận và trở nên người được thông phần chia xẻ những hành động gương mẫu của chúng ta nhằm giúp đỡ dẫn dắt những người khác trong công cuộc tìm kiếm Cánh Cửa Đức Tin: PORTA FIDEI - Cánh Cửa Đức Tin đã và sẽ cho mọi người thấy được niềm vui mừng của đời sống KiTô hữu, vốn đã được hiện diện qua bao nhiêu thế hệ và ở trong mọi nền văn hóa.

Đức Hồng Y Wiliam Levada cũng nêu ra một đề nghị để cử hành trong Năm Đức Tin là mỗi Giáo Phận nên có các Thánh Lễ khai mạc và Thánh Lễ bế mạc Năm Đức Tin. Các Giáo Xứ và cơ sở của Giáo Hội cũng nên cử hành 2 Thánh Lễ như các Giáo Phận. Việc phân phát sách báo và tài liệu học tập về Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo và Công Đồng Vatican II cũng nên trở thành phần quan trọng trong công việc Huấn Đức ở ngày họp Dòng Đa Minh hàng tháng, hay trong các kỳ tĩnh tâm khác. Đó cũng là một cách thế để làm quen với các văn kiện đã được thiết lập rất công phu nhằm để dễ đọc, dễ phân tích -thảo luận, dễ chia xẻ cảm nghiệm giữa các tín hữu giáo dân và đoàn viên trong Dòng và trong Giáo xứ.

Đức Hồng Y William Levada, Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý-Đức Tin của Tòa Thánh cũng đề nghị là; “ Các Hội Đoàn và Phong trào Công Giáo tiến hành thuộc về Hội Thánh Công Giáo được mời gọi để thăng tiến, phát triển các sáng kiến đặc biệt thông qua việc đóng góp chia xẻ các đặc sủng, đoàn sủng riêng có của họ và trong sự cộng tác mật thiết với Cha Sở Giáo Xứ - họ sẽ đóng góp cho kho tàng kinh nghiệm to lớn hơn, sẽ làm phong phú thêm những cảm nghiệm mang tầm vóc lớn lao của Năm Đức Tin . Các Cộng đồng, cộng đoàn và những tổ chức, phong trào Công Giáo tiến hành vừa mới được thành lập trong Năm Đức Tin này thông qua những cách thế hoạt động sáng tạo và rộng tay hơn sẽ có thể tìm được những phương thức thích hợp nhất và sẽ có thêm nhiều chứng nhân Đức Tin trong công cuộc phục vụ Hội Thánh Chúa. “
Đức Giáo Hoàng Bêneđíctô thứ 16 đã nêu ra định nghĩa; “ Đức Tin là một người bạn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Đức Tin cho phép nhận biết được những điều kỳ diệu và hồng ân của Thiên Chúa thực hiện nơi mỗi người chúng ta, với một cái nhìn luôn luôn được đổi mới. Đức Tin cũng thúc đẩy chúng ta; một khi theo sát được các dấu chỉ của thời đại lịch sử sẽ trở thành những dấu chỉ hiện diện sống động của Đấng Phục Sinh cho thế giới hôm nay. “

Chúng ta hãy nhân cơ hội này trong Năm Đức Tin để canh tân niềm tin của chúng ta, và biến đổi những niềm tin đó thành những hành động thực tế. Vì Đức Tin của chúng ta là một hành vi cá nhân - bản thân (Tôi tuyên xưng Đức Tin, Lạy Chúa con tin tưởng Chúa) - và điều này cũng có tính chất Cộng đoàn tập thể; ( Chúng con tuyên xưng, Lạy Chúa chúng con tin tưởng Chúa)

Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì Hồng Ân Đức Tin chúng ta được lãnh nhận và sống Đức Tin trong hiệp thông cùng với mọi người, với các cá nhân tín hữu khác trong Hội Thánh Công Giáo, trong Gia đình Dòng Đa Minh của chúng ta, và với tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại trần thế của chúng ta để làm cho thế giới của chúng ta luôn luôn vang lên lời ca ngợi sự hiện diện và dẫn dắt đầy tình thương cao cả của Đức Chúa Giêsu KiTô - Đức Chúa của chúng ta.

Chuyển ý từ văn bản thuyết giảng của Tu sĩ Marcos A. Ramos OP, Cha Bề Trên Dòng Đa-Minh Canada tại Ontario kiêm Tu Viện Trưởng St. Thomas Aquinas Priory.)
Source: Very Rev. Marcos A. Ramos OP, Superior of Dominican Friars of Toronto-GTA
Prior of St. Thomas Aquinas Priory.
Dominic David Trần chuyển ý
Chuyên mục: , ,

4 thg 10, 2012

DI CHÚC CỦA THÁNH PHANXICÔ

Chia sẻ bài viết này:

Xem thêm: Cuộc đời thánh Phanxico 

200px-FrancisbyelgrecoChúa đã ban cho tôi, tu sĩ Phanxicô, ơn bắt đầu cuộc đời hoán cải như thế này : khi còn sống trong tội lỗi, mỗi lần trông thấy người phung, tôi lấy làm ghê tởm lắm. Nhưng chính Chúa đã dẫn tôi đến với họ và tôi đã tỏ lòng thương xót họ. Khi xa cách họ, điều trước kia đối với tôi là ghê tởm đã trở thành ngọt ngào cho tôi trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác. Sau đó, tôi chờ đợi ít lâu và ra khỏi thế gian.

  Chúa đã ban cho tôi ơn tin mạnh mẽ vào sự hiện diện của Chúa trong các nhà thờ, đến nỗi tôi cầu nguyện một cách đơn sơ rằng : "Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con thờ lạy Chúa trong hết mọi nhà thờ của Chúa trên khắp hoàn cầu. Chúng con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã dùng thánh giá mà cứu chuộc thiên hạ" [3].

Sau đó, Chúa đã ban và vẫn còn ban cho tôi ơn tin mạnh mẽ vào các linh mục sống theo qui luật Hội Thánh Rôma vì thánh chức của các ngài, nên dầu các ngài có bách hại tôi, tôi vẫn chạy đến với các ngài.  Dù tôi có khôn ngoan như vua Salômon, nếu tôi gặp các linh mục thấp kém ở thế gian này, tôi cũng không muốn giảng dạy trong giáo xứ của các ngài, nếu các ngài không chấp thuận.

  Tôi muốn kính sợ, yêu mến và quí trọng các ngài cũng như tất cả các linh mục khác như là tôn chủ của tôi. Tôi không muốn xem xét tội lỗi của các ngài, vì tôi nhìn thấy Con Thiên Chúa hiện diện nơi các ngài và vì các ngài là tôn chủ của tôi. Tôi hành động như thế vì tôi không thấy có gì cụ thể[4] trong thế gian này về Người Con chí thánh của Thiên Chúa, ngoài Mình và Máu rất thánh của Người, mà chính các ngài nhận lấy và chỉ các ngài mới được ban phát cho kẻ khác.

Tôi muốn các mầu nhiệm rất thánh này được mọi người kính trọng, tôn sùng trên hết mọi sự, và cất giữ ở những nơi quí giá. Nếu tôi bắt gặp những tấm giấy ghi chép Tên và Lời rất thánh của Chúa ở những nơi bất xứng, tôi muốn thu lại và xin người ta thu lại, và để vào nơi xứng đáng. Còn đối với tất cả các nhà thần học và những người ban phát lời chí thánh của Chúa, chúng ta phải quí mến và tôn kính : chúng ta phải xem các ngài như là những người thông ban cho chúng ta Thánh Khí và sự sống (x. Ga 6,63).

Sau khi Chúa đã ban cho tôi một số anh em, không ai chỉ bảo cho tôi phải làm gì, nhưng chính Đấng tối cao đã mạc khải cho tôi biết phải sống theo mẫu mực thánh Phúc âm.  Và tôi đã xin viết ra luật sống ấy một cách đơn sơ và ngắn gọn, và Đức Thánh Cha đã xác nhận cho tôi. Những ai đến chia sẻ nếp sống này, thì hãy phân phát cho người nghèo tất cả những gì họ có thể có (Tb 1,3), rồi bằng lòng chỉ có một áo dài được lót cả trong lẫn ngoài, một dây lưng và vài cái quần ngắn.

Chúng tôi không muốn có thêm gì nữa. Chúng tôi đọc thần tụng như thế này : anh em giáo sĩ đọc như các giáo sĩ khác, anh em giáo dân đọc các kinh Lạy Cha. Chúng tôi rất thích lưu lại trong các nhà thờ. Chúng tôi dốt nát và phục tùng tất cả mọi người.

Phần tôi, tôi đã làm việc tay chân và vẫn muốn làm việc. Tôi tha thiết muốn tất cả anh em khác đều phải chuyên tâm làm một công việc lương thiện.  Ai không biết làm việc thì phải học, không phải vì ham muốn nhận thù lao, nhưng là để làm gương và tránh ở nhưng.  Khi người ta không trả công, chúng ta hãy chạy đến bàn ăn của Chúa bằng cách đi xin của bố thí từng nhà.

Chúa đã tỏ cho tôi phải chào bằng lời này : "Xin Chúa ban bình an cho quí vị". Anh em phải để ý nhất thiết đừng nhận nhà thờ, nhà ở bé nhỏ và tất cả những gì người ta xây cất cho anh em, nếu những nơi ấy không hợp với thánh đức nghèo khó mà chúng ta đã hứa giữ trong Luật Dòng, và chúng ta chỉ trú ngụ ở đó như khách lạ và kẻ lữ hành (x. 1Pr 2,11). Nhân danh đức vâng lời, tôi cấm ngặt tất cả anh em, dù ở nơi nào, không được cả gan tự mình hoặc nhờ người trung gian xin Giáo triều Rôma một chứng thư cho phép nhận một nhà thờ hoặc một nơi ở nào khác, cho dầu viện cớ để rao giảng hay để tránh một cơn bách hại nguy hiểm cho tính mạng.

Nhưng ở bất cứ nơi nào, nếu người ta không chấp nhận anh em, anh em hãy chạy đi nơi khác mà sống đời đền tội, và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho. Tôi cương quyết muốn vâng lời Anh Tổng Phục vụ của Huynh đệ đoàn này và anh Phụ trách mà anh ấy đã vui lòng cắt đặt cho tôi.

Nhà thờ Thánh Phanxico

Tôi muốn chịu cầm buộc trong tay anh ấy, đến nỗi tôi không thể đi đâu hay làm gì trái với mệnh lệnh và ý muốn của anh, vì anh là chủ tôi. Mặc dù tôi chất phác và đau yếu, tôi vẫn muốn luôn luôn có một anh em giáo sĩ giúp tôi đọc thần tụng như đã ấn định trong Luật Dòng. Tất cả các anh em khác cũng phải vâng phục anh Phụ trách mình như vậy và đọc thần tụng như Luật dạy. Nếu có ai không đọc thần tụng như Luật dạy và muốn thay đổi cách nào khác hoặc nếu có ai không phải là người công giáo, thì nhân danh đức vâng lời, tôi buộc tất cả các anh em khi gặp một người như thế, phải đem trình diện anh Phụ trách gần nơi ấy nhất [5].
 

Nhân danh đức vâng lời, tôi buộc nhặt anh Phụ trách này phải cẩn thận giữ kẻ ấy ngày đêm như một tù nhân, đừng để kẻ ấy thoát khỏi tay mình cho đến lúc đích thân giao kẻ ấy cho anh Tỉnh Phục vụ của đương sự.

Nhân danh đức vâng lời, tôi cũng buộc nhặt anh Tỉnh phục vụ phải nhờ một vài anh em có thể giữ kẻ ấy ngày đêm như một tù nhân, giải tới Đức Hồng-y ở Osti[6] là Đấng cai quản, bảo trợ và sửa dạy toàn thể Huynh đệ đoàn.
Xin anh em đừng nói : "Đây là một Bản Luật khác". Đây chỉ là lời nhắc lại, khuyên bảo, khích lệ và là di chúc mà tôi là tu sĩ Phanxicô hèn mọn đã viết ra cho anh em[7] là những người được Chúa chúc phúc, để chúng ta giữ một cách công giáo hơn Luật Dòng mà chúng ta đã tuyên hứa với Chúa.
Nhân danh đức vâng lời, anh Tổng Phục vụ, tất cả các anh Tỉnh phục vụ và các anh Phụ trách không được thêm bớt gì vào những lời này. Anh em hãy luôn mang theo mình bản văn này cùng với Luật Dòng. Mỗi lần họp tu nghị, khi đọc Luật Dòng, xin anh em cũng hãy đọc những lời này.

Nhân danh đức vâng lời, tôi buộc nhặt anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, không được thêm thắt ghi chú nào vào Luật Dòng cũng như vào những lời này mà nói : "Phải hiểu như thế này".

  Nhưng, cũng như Chúa đã ban cho tôi ơn nói và viết Luật Dòng cùng những lời này cách đơn sơ và trong sáng, thì anh em cũng phải hiểu cách đơn sơ, không cần ghi chú nào cả, và bằng hành động lành thánh, anh em hãy tuân giữ cho đến cùng.
Vậy ai tuân giữ các điều này sẽ được Chúa Cha cao cả trên trời chúc phúc, và ở dưới đất sẽ được Chúa Con yêu quí của Người cùng với Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo trợ, và toàn thể các dũng thần thiên quốc và tất cả các thánh ban phúc lành tràn đầy.

Phần tôi, tu sĩ Phanxicô hèn mọn, tôi tớ của anh em, theo quyền hạn của tôi, tôi cũng xin xác nhận, từ trong lòng đến ngoài miệng lời chúc lành rất thánh đó cho anh em.

Chú thích:
[1] Đầu đề bằng La-ngữ : Testamentum, x.Opuscula , tr.305.
[2] Ở câu 34 thánh Phan-xi-cô gọi bản văn này là "meum testamentum" (di chúc của tôi). Thật khó mà xác định ý nghĩa của từ " testamentum". Theo nghĩa bình thường và cũng là nghĩa pháp lý, di-chúc là bản văn diễn tả ý muốn cuối cùng của một người liên hệ đến các của cải hoặc sở hữu của mình. Nghĩa này thực ra không phù hợp ở đây, vì bản văn chủ yếu chứa đựng "những lời nhắc lại, khuyên bảo, khích lệ" (câu 34). Đức giáo hoàng Ghê-gô-ri-ô IX, trong sắc chỉ Quo elongati (1230), xem bản văn này là "lời răn bảo" (mandatum) của thánh Phan-xi-cô. Năm 1295, trong lá thư gửi cho chân phước Conrad Offida, P.Olivi gọi đơn giản là "một lá thư". Mới đây Auspicius van Constanje đề nghị phải hiểu "testamentum" theo nghĩa Kinh-thánh , tức là "giao ước": cũng như dân It-ra-en đã đón nhận Lề-luật để sống giao-ước với Gia-vê, thì Phan-xi-cô và các Anh em Hèn mọn cũng phải tuân giữ Luật Dòng để sống tương quan giao-ước với Chúa Ki-tô (x. Un peuple de pèlerins,Paris 1964).
[3] Kinh này được lấy lại từ phụng-vụ ngày thứ sáu tuần thánh để tôn vinh Thánh giá: " Adoramus te, Christe, et benedicimus tibi, quia per crucem tuam redemisti mundum". So với công thức phụng-vụ thì thánh Phan-xi-cô đã thêm vào ba chi tiết: a) tên:Giê-su; b) câu: trong mọi nhà thờ của Chúa trên khắp hoàn cầu; c) tính-từ "thánh" để miêu tả thập giá. Câu được thêm ở mục b) cho thấy lúc đầu thánh Phan-xi-cô đọc kinh này để tôn thờ Chúa Ki-tô hiện diện trong Bí tích thánh - thể được cất giữ trong các nhà thờ. Về sau anh em đọc kinh này khi bắt gặp một tượng thánh giá (x.1 Celanô 45).
[4] Corporaliter: theo thân xác.Xem ghi-chú nơi T Gs 3.
[5] Custos illius loci. Đương thời Thánh Phan-xi-cô các Phụ trách nhà được gọi bằng nhiều từ : "minister loci", "custos loci", " guardianus" (Xem K.Esser, Origini e valori autentici dell'Ordine dei Frati Minori, Milano 1966, p.221. Đàng khác người phụ-trách thường xuyên tiếp xúc với anh em là "phụ trách nơi ở" (nhà) chứ không phải là Hạt-phục-vụ.
[6] Domino Ostiensi,dịch sát: Tôn chủ ở Osti, tức là Đức Hồng-y bảo trợ (x.L.12,3).
[7] Dịch sát: "Di chúc (testamentum) mà tôi đã làm cho anh em ..." Nếu ta hiểu "testamentum" theo nghĩa là "giao ước" như Auspicius van Constanje đề nghị (xem ghi chú ở đầu di-cảo này), thì câu này có thể dịch: "Đây là...giao ước mà tôi lập ra cho anh em". Trong trường hợp này thánh Phan-xi-cô xem mình như ông Mô-sê ngày xưa làm trung gian để thiết lập giao ước giữa Thiên-Chúa và It-ra-en: dân It-ra-en mới đây là các Anh em Hèn mọn, "những khách lạ và kẻ lữ hành" trên thế gian này (câu 24).

Chuyên mục: , ,

18 thg 9, 2012

Bí Mật Kinh Mân Côi

Chia sẻ bài viết này:

Bí Mật Kinh Mân Côi là một tác phẩm nổi tiếng rất giá trị của thánh Louis Marie Grignion de Monfort. Qua tác phẩm này, chúng ta khám phá ra sức mạnh, giá trị vạn năng của Kinh Mân Côi. Chúng ta là Kitô hữu hay lần hạt, nhưng nhiều khi lại ít biết được giá trị cao quý của Kinh Mân Côi. Ước gì qua những Slideshow về Tác phẩm này, quý vị sẽ thấy được giá trị vô song của Kinh Mân Côi. Nhờ thế, quý vị sẽ thích và siêng năng lần hạt hơn.
Tập 1;http://www.youtube.com/watch?v=stqErd18ZrI|Tập 2;http://www.youtube.com/watch?v=Z0_qliFmm0Y|Tập 3;http://www.youtube.com/watch?v=M0c30NKUiQY|Tập 4;http://www.youtube.com/watch?v=AERLNy6nbhY
Chuyên mục: , ,

11 thg 8, 2012

Thế Giới Nhìn Từ Vatican 03-10/08/2012

Chia sẻ bài viết này:
Video: Thế Giới Nhìn Từ Vatican 03-10/08/2012 - Timeline của vụ Vatileaks
1. Buổi triều yết chung hôm thứ Tư 9/8/2012
Trong buổi tiếp kiến chung tại Castel Gandolfo, Đức Thánh Cha nói Thánh Dominic, mà người Việt chúng ta thường gọi là thánh Đa Minh, luôn tìm thấy sức mạnh nơi lời cầu nguyện cho những công việc khó khăn của mình.

Buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 8 tháng 8, trùng với ngày lễ kính thánh Đa Minh. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16, do đó, đã đề cập đến đời sống cầu nguyện của vị linh mục đã thành lập dòng Đa Minh vào thế kỷ thứ mười ba.
"Tôi chào mừng tất cả các khách hành hương nói tiếng Anh có mặt tại buổi triều yết chung hôm nay, đặc biệt là những người đến từ Anh, Macau, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Hôm nay chúng ta mừng kính lễ Thánh Dominic, người sáng lập Dòng Truyền Giáo Đa Minh. Trong cuộc sống của mình, Thánh Dominic đã có thể kết hợp lời cầu nguyện liên tục với những hoạt động hăng say phục vụ Chúa và Giáo Hội của Người. Xin cho gương sáng và lời cầu bầu của Ngài giúp tất cả chúng ta có thể tái khám phá tầm quan trọng và vẻ đẹp của lời cầu nguyện hàng ngày, và vui tươi làm chứng cho đức tin của chúng ta nơi Chúa Kitô Đấng Cứu Độ ".
“Nơi Thánh Đa Minh, chúng ta có thể thấy một ví dụ kết hợp hài hoà giữa việc chiêm niệm mầu nhiệm Thiên Chúa và các hoạt động tông đồ. Chứng tá của những người gần gũi nhất với thánh nhân cho thấy ngài “luôn nói với Thiên Chúa và về Thiên Chúa””
Mặc dù, Thánh Đa Minh không để lại bài viết về cầu nguyện, Đức Giáo Hoàng giải thích rằng các tu sĩ Đa Minh đã thu thập được chín cách cầu nguyện mà họ sử dụng ngày hôm nay trong dòng của họ, chẳng hạn như nằm trên mặt đất hoặc dang cánh tay ra theo hình thánh giá.
Đức Thánh Cha nói tiếp:
"Thánh Đa Minh nhắc nhớ nguồn gốc của chứng tá đức tin mà mỗi Kitô hữu nên thể hiện ra cho gia đình, chỗ làm việc, và đời sống xã hội của họ, và vào những thời điểm thanh thản nhất theo đó Kitô hữu là những người cầu nguyện. Chỉ có mối quan hệ thường xuyên với Thiên Chúa mới đem đến cho chúng ta sức mạnh để sống nhiệt thành mỗi ngày."
Đức Thánh Cha Benedict XVI ghi nhận rằng Thánh Đa Minh đã học được rằng thái độ và sự im lặng bên ngoài là quan trọng cho cầu nguyện và chiêm niệm.
Đức Giáo Hoàng chúc mọi người những ngày nghỉ hè vui vẻ và khích lệ anh chị em tín hữu tìm kiếm Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày của họ.
2. Timeline của vụ Vatileaks
Thẩm phán Piero Antonio Bonnet và công tố viên Nicola Picardi đã có kết luận chính thức về hành vi trộm cắp với những tình tiết nghiêm trọng của ông Paolo Gabrielle, cựu quản gia Phủ Giáo Hoàng. Theo dự trù, sáng thứ Hai 13 tháng 8, Tòa Thánh sẽ có cuộc họp báo để chính thức trình bày quyết định của quốc gia thành Vatican liên quan đến việc xử lý ông Paolo Gabrielle về việc lấy cắp, và tàng trữ các tài liệu của Đức Thánh Cha.
Nhân đây, chúng tôi xin điểm hầu quý vị những mốc thời gian chính liên quan đến vụ này.
Vụ Vatileaks đã diễn ra từ ngày 25 tháng Giêng năm nay khi chương trình truyền hình Ý có tên "Gli Intoccabili" (Những Điều Không Thể Động Đến) tiết lộ một bức thư của Đức Tổng Giám Mục Carlo Maria Viganò, trong đó ngài than phiền với Đức Giáo Hoàng rằng nhiều dự án xây dựng tại Tòa Thánh đã bị tính chi phí cao hơn so với giá thông thường.
Đức Cha Carlo Maria Viganò đã gia nhập ngành ngoại giao Tòa Thánh từ năm 1973 và đã từng là sứ thần Tòa Thánh tại Iraq và Anh quốc trước khi phục vụ tại Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh từ năm 1978 cho đến năm 1989. Sau đó, ngài được đề cử là Quan Sát Viên thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hiệp Âu Châu và sứ thần Tòa Thánh tại Nigeria. Năm 2009, ngài được đề cử làm tổng thư ký của Ủy Ban Quản Trị Thành Vatican. Chỉ trong vòng một năm, ngài đã thay đổi ngân sách chi tiêu từ mức thâm thủng 10.5 triệu Mỹ Kim hàng năm lên đến mức thặng dư 44 triệu hàng năm. Ngày 27 tháng Ba năm 2011, ngài viết một lá thư riêng cho Đức Thánh Cha than phiền về việc các công trình xây dựng bị tính chi phí quá cao. Đức Hồng Y Vealsio De Paolis lúc ấy là Trưởng Phòng Kinh Tế Tòa Thánh đã có cuộc điều tra nhưng không tìm thấy vấn đề gì. Sáu tháng sau đó, Đức Cha Carlo Maria Viganò được cử làm sứ thần Tòa Thánh tại Washington, Hoa Kỳ.
Chương trình truyền hình Ý đưa ra cáo buộc về những điều mà chương trình này gọi là “không minh bạch” trong việc Tòa Thánh điều Đức Cha Viganò sang Hoa Kỳ.
Sáng ngày 26 tháng Giêng, cha Federico Lombardi, trưởng phòng báo chí Tòa Thánh bày tỏ sự cay đắng của ngài trước việc chương trình truyền hình Ý "Gli Intoccabili" đã công bố một lá thư riêng viết cho Đức Thánh Cha và để ngỏ khả năng Tòa Thánh truy tố pháp lý về việc này.
21 ngày sau đó, hôm 14 tháng Hai, cha Federico Lombardi dùng từ “Vatileaks” để liên hệ đến vụ này và bày tỏ sự thất vọng đối với những đồn đoán vô căn cứ của giới truyền thông Italia.
Những ngày tiếp theo Tòa Thánh bối rối vì một số tài liệu khác tiếp tục bị rò rỉ ra bên ngoài . Ngày 26 tháng Tư, Đức Thánh Cha đã cho thành lập một ủy ban điều tra đặc biệt gồm ba vị Hồng Y là Đức Hồng Y Julian Herranz người Tây Ban Nha, Đức Hồng Y Josef Tomko người Slovakia, và Đức Hồng Y Salvatore De Giorgi người Ý. Đức Hồng Y Julian Herranz đã từng là chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Giải Thích các Văn Bản Luật từ năm 1994 đến năm 2007. Ủy ban của ba vị Hồng Y được sự phối hợp của ông Domenico Giani, cận vệ của Đức Thánh Cha và 100 hiến binh Vatican.
Ngày 19 tháng Năm, trong cuốn sách “Le Carte Segrete Di Benedetto XVI”, tức là những tài liệu mật của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, ký giả Gialuigi Nuzzi tung ra khoảng 100 tài liệu được lấy cắp ngay trên bàn làm việc của Đức Giáo Hoàng.
Sau một tháng điều tra, chiều thứ Tư 23 tháng Năm, hiến binh Tòa Thánh đã bắt Paolo Gabrielle quản gia phủ Giáo Hoàng sau khi thu được tại nhà ông những tài liệu lấy cắp của Đức Thánh Cha. Sáng ngày thứ Năm, Tòa Thánh đã tổ chức ngay cuộc họp báo mặc dù cuộc điều tra vẫn đang tiến hành.
Ngày 30 tháng Năm, đích thân Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 đề cập trực tiếp về vấn đề này.
Đức Thánh Cha nói:
"Các sự kiện trong những ngày gần đây liên quan đến Giáo triều và các cộng tác viên của tôi đã mang lại nỗi buồn trong trái tim tôi. Tuy nhiên, tôi có niềm tin vững chắc rằng bất chấp sự yếu đuối của con người, bất chấp những khó khăn và thử thách, Giáo Hội luôn được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, và Chúa sẽ không bao giờ ngưng ban phát những trợ giúp của Ngài trong việc duy trì Giáo Hội trên cuộc lữ hành trần thế.
Tuy nhiên, một số tin đồn hoàn toàn vô căn cứ, được khuếch đại bởi một số phương tiện truyền thông, đã đi quá xa các sự kiện, đưa ra một bức tranh về Tòa Thánh không tương ứng với thực tế. Vì thế, tôi muốn nhắc lại ở đây sự tin tưởng và sự khích lệ của tôi đối với những cộng tác viên của mình, là những người ngày qua ngày, với lòng trung thành và một tinh thần hy sinh, đang lặng lẽ giúp đỡ tôi trong việc thực hiện sứ vụ của mình. "
Nhiều nhà quan sát tin rằng vụ Vatileaks nhằm làm mất uy tín của Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Thật vậy, đã có một trào lưu của báo chí Italia kêu gọi Đức Hồng Y từ chức. Tuy nhiên, hôm 04 Tháng Bảy, Đức Thánh Cha đã viết một lá thư bày tỏ tin tưởng hoàn toàn của mình đối với Đức Hồng Y.
Ngày 24 tháng 7, luật sư của Gabriele cho biết ông đã gửi một lá thư cho Đức Giáo Hoàng xin tha thứ và nói rằng ông đã hành động một mình không có đồng phạm bên ngoài.
3. Một số sai lầm và ngộ nhận xung quanh vụ Vatileaks.
Tin tức về các tài liệu của Đức Thánh Cha và giáo triều Rôma bị rò rỉ là vấn đề thời sự được đăng tải mỗi ngày trên các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, dòng chảy liên tục của thông tin xem ra không làm sáng tỏ vấn đề mà trái lại đang có xu hướng mang lại rất nhiều ngộ nhận và thậm chí cả những bóp méo sai thực tế rất xa. Dưới đây là một số vấn đề phổ biến nhất.
Sai lầm đầu tiên là quan điểm cho rằng khoảng 100 tài liệu bị rò rỉ là "các tài liệu đầy tai tiếng". Nội dung của các tài liệu này không có gì là tai tiếng hết cả. Trong các tài liệu này, đa số các tác giả viết thư cho Đức Giáo Hoàng để đề nghị các phương hướng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong Giáo Hội.
Một số tài liệu và thư từ bao gồm các yêu cầu để được Đức Thánh Cha tiếp kiến, và các báo cáo liên quan đến các nhận định hay những quan điểm cá nhân của những vị có trách nhiệm trong Giáo Hội về những vấn đề thời sự trên thế giới, là những vấn đề đã được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Các tài liệu này khá trực tiếp và không luôn luôn theo các quy định lễ tiết nhất định nào, vì các tác giả của các tài liệu giả định rằng chỉ có Đức Giáo Hoàng sẽ đọc các văn bản ấy.
Sai lầm thứ hai cho rằng các tài liệu bị rò rỉ đưa ra một hình ảnh tiêu cực về Đức Giáo Hoàng và đó là một cuộc tấn công chống lại Đức Thánh Cha. Thực tế, các tài liệu này đưa ra một hình ảnh tích cực về Đức Thánh Cha. Chúng cho thấy rằng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng, ngài luôn tham khảo các ý kiến sâu sắc của các cộng tác viên của mình.
Tuy nhiên, cần phải nói rằng hành vi đánh cắp và xuất bản các văn bản đánh cắp như thế là một hành vi vô luân trầm trọng. Đây không phải chỉ là một sự xúc phạm đến sự kín đáo riêng tư mà bất kỳ ai cũng có quyền được hưởng nhưng còn là một sự chà đạp lương tâm của những người ngỏ lời với Đức Thánh Cha trong tư cách ngài là vị Đại diện Chúa Kitô và là một sự xúc phạm đối với sứ vụ của người Kế Vị Thánh Phêrô.
Sai lầm thứ ba cho rằng "Vatican được chia thành hai nhóm tranh giành quyền lực với nhau." Các tài liệu bị rò rỉ thực sự liên quan đến các chủ đề rất đa dạng với các mức độ quan trọng rất khác biệt. Như trong các guồng máy hành chính khác, luôn có những ý kiến khác nhau. Nhưng điều này không nên nhầm lẫn với thái độ thù địch nội bộ.
Sai lầm thứ tư cho rằng ông Paolo Gabriele, là quản gia của Đức Giáo Hoàng, sẽ được xét xử bởi một tòa án của Giáo Hội. Điều này là không đúng, vì người quản gia này được xét xử bởi tòa án dân sự của Quốc Gia thành của Vatican. Các vị quan toà không phải là các linh mục hay là những vị trong hàng giáo sĩ, nhưng là các giáo dân là các chuyên gia pháp luật hay giáo sư của các trường Đại học Ý.
Sai lầm thứ năm cho rằng người quản gia sẽ được xử bí mật. Tại thời điểm này, một thẩm phán đã ra một “gag order”, tức là một án lệnh không công bố các chi tiết trong tiến trình điều tra. Nhưng nếu ông quyết định khởi tố người quản gia này trong một phiên tòa, thì phiên tòa đó chắc chắn phải diễn ra công khai trong đó người quản gia này sẽ được chọn hai luật sư bào chữa.
Nhiều phương tiện truyền thông cho rằng Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 sẽ ban hành một ân xá cho người quản gia. Tại thời điểm này, đây vẫn chỉ là một giả thuyết. Trước đây, Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tha thứ cho Ali Agca là người đã bắn vào ngài. Mặc dù hai trường hợp hoàn toàn khác biệt. Không loại trừ khả năng Đức Giáo Hoàng có thể ân xá cho ông Paolo Gabriele. Nhưng cũng không thể khả định khả năng đó chắc chắn sẽ xảy đến.
4. Đồng hồ đếm ngược cho biến cố khai mạc Năm Đức Tin
Để chào mừng kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã công bố năm Đức Tin sẽ bắt đầu từ ngày 11 tháng 10. Đây là một thời gian thuận tiện cho người Công giáo nghiên cứu và đào sâu hơn về đức tin.
Đồng hồ đếm ngược cho biến cố này đã bắt đầu xuất hiện trên trang web đã được tạo ra bởi Hội đồng Giáo Hoàng về Tân Phúc Âm Hóa.
Trên trang Web này ta có thể tìm thấy các thông điệp chính của Đức Giáo Hoàng, bao gồm cả tông thư Porta Fidei, tức là Cánh Cửa Đức Tin trong đó ngài mời gọi các tín hữu trên toàn thế giới tham gia tích cực vào Năm Đức Tin. Trang web cũng cung cấp các văn bản ban đầu của Vatican II trong 12 ngôn ngữ, cũng như những bài giáo lý trực tuyến, và các văn bản và video các bài giáo lý chính của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16.
Ngoài ra còn có một lịch với các sự kiện lớn được tổ chức trên toàn thế giới trong năm nay. Trang Web cũng giải thích nhiệm vụ của Hội đồng Giáo hoàng trẻ tuổi này cho Tân Phúc Âm Hóa, được thành lập vào năm 2010 bởi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16.
Các trang web có thể được xem bằng tiếng Anh và tiếng Ý. Nhiều ngôn ngữ khác sẽ được thêm vào theo thời gian. Năm Đức Tin cũng có thể theo dõi trên hầu hết các mạng xã hội như facebook và twitter.
Địa chỉ của trang Web: http://www.annusfidei.va
5. Đức Giáo Hoàng khuyến khích các tín hữu đào sâu đức tin trong kỳ nghỉ mùa hè
Trong kinh Truyền Tin tại Castel Gandolfo, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 nói rằng kỳ nghỉ là thời điểm tốt để tận dụng lợi thế nhằm đào sâu đức tin của chúng ta.
"Trong những ngày đầy lo lắng và các vấn đề, và cả trong những ngày nghỉ ngơi và thư giãn, Chúa mời gọi chúng ta không quên rằng điều cần thiết phải lo lắng là sao cho có đủ nguyên liệu và các lực phục hồi, thậm chí phải gia cố lại nền tảng hầu tăng trưởng mối quan hệ với Thiên Chúa, tăng cường đức tin của chúng ta nơi Ngài là "bánh mì của cuộc sống chúng ta".
Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 giải thích rằng đức tin phải là cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu.
"Đức tin là nền tảng. Đây không phải là việc theo đuổi một ý tưởng, hoặc một dự án, nhưng để tìm thấy Chúa Giêsu như là một con người sống động và trở nên sẵn sàng dấn thân hoàn toàn cho Chúa và Tin Mừng của Ngài. "
Trước khi kết thúc kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng hôm Chúa Nhật là lễ cung hiến Đền Thờ Đức Bà Cả. Ngài kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria hỗ trợ tất cả người Công giáo trong cuộc hành trình đức tin của họ.
6. Một linh mục đã cứu hàng trăm người Do Thái trong Thế chiến thứ II bằng cách cải trang họ thành chủng sinh
Năm 1943, giữa cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Đức Giáo Hoàng Piô thứ 12 đã kêu gọi các tổ chức Công giáo giúp đỡ người Do Thái đang bị chế độ Quốc xã của Hitler truy bắt.
Tại Rôma, một trong những người đã liều mạng sống của họ là cha Francesco Bertoglio, vào thời gian đó là hiệu trưởng Đại Chủng viện Giáo Hoàng Lombard. Vị hiệu trưởng Đại Chủng viện Giáo Hoàng Lombard hiện nay nói rằng lúc đó hàng trăm người Do Thái đã được đưa lén vào trong trường. Họ được cho ăn mặc giả như các chủng sinh để cho họ hòa mình vào môi trường. Dù vậy nhưng vẫn có người đã làm gián điệp từ bên ngoài chủng viện.
Cha Tullio CITRINI, Hiệu trưởng Đại Chủng viện Giáo Hoàng Lombard, nói:
"Một đêm trước Giáng sinh năm 1943, một số người của Hitler đã đến và bắt đi một số người Do Thái. Không nhiều lắm, bởi vì họ đã được dấu kỹ."
Cha cựu Hiệu trưởng đã cố gắng ngăn chặn hành động này. Cha tuyên bố chủng viện là một vùng trung lập và quân đội Đức không được vào. Tuy nhiên, sự chống cự của cha đã dẫn đến việc chính cha cũng bị bắt.
Cha Tullio CITRINI nói thêm:
"Đêm đó, họ cũng đã bắt cha Hiệu Trưởng. Tuy nhiên sau đó ngài được trả tự do bởi vì Đức Ông Montini, từ Phủ Quốc Vụ Khanh của Tòa Thánh, đã gửi một người nào đó thay mặt ngài đến trình bày để quân Đức phải thả cha."
Một số người khác tìm cách thoát khỏi bằng cách đáp xe điện từ quảng trường và sau đó đến ẩn trú trong Đền Thờ Đức Bà Cả tại Roma.
Hơn 70 năm sau đó, sự can đảm khi liều mạng sống của mình để cứu người Do Thái bị ngược đãi của vị linh mục này đã được công nhận. Khi ngài được thụ phong giám mục, ngài đeo một cây thánh giá là món quà do những người Do Thái đã được ngài cứu giúp đã trao tặng.
Cha Francesco Bertoglio đã qua đời vào năm 1970. Ba mươi năm sau đó, Nhà nước Israel đã truy tặng cho ngài danh hiệu "Người Công Chính Giữa Các Dân Nước'' vì đã liều mạng sống của mình cho những người Do Thái.
7. Nước Ý lên tiếng bảo vệ tự do tôn giáo ở Nigeria
Sau nhiều cuộc tấn công nhằm vào các Kitô hữu tại Nigeria, dân chúng nơi đó đang sống trong sự sợ hãi vô cùng.
Cộng đồng quốc tế đã lên tiếng báo động sau khi các cuộc tấn công khủng bố ồ ạt nổ ra. Nổ bom trong nhà thờ và tấn công người Kitô hữu khắp mọi nơi khiến người Kitô hữu phải có những hành động tự vệ. Đức Thánh Cha đã lên tiếng xin các tín hữu Kitô nên giữ bình tỉnh.
Bộ Ngoại giao Ý và thành phố Rôma đã thành lập một Cơ quan Theo Dõi Tình Hình Tự do Tôn giáo để bảo vệ các thiểu số tôn giáo trên toàn thế giới. Tại cuộc họp này, trong đó có tham dự của Bộ trưởng Ngoại giao Ý, họ kêu gọi chấm dứt các cuộc tấn công.
Giulio Terzi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ý tuyên bố:
"Chúng ta phải nhớ nguyên tắc cơ bản mà Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 giải thích: Tự do tôn giáo không phải là độc quyền cho các tín hữu, nhưng thuộc toàn bộ gia đình nhân loại trên thế giới. Đó là một yếu tố thiết yếu trong một thể chế pháp luật. Hạn chế tự do ấy ảnh hưởng mạnh đến tất cả các quyền tự do khác. "
Cơ quan Theo Dõi Tình Hình Tự do Tôn giáo Ý cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một nỗ lực quốc tế để xây dựng sự hiệp nhất, đặc biệt là trong số những người trẻ.
Những người tham dự hội nghị mong muốn nước Ý đóng một vai trò quan trọng trong việc khẳng định tầm quan trọng của tự do tôn giáo. Họ hy vọng việc này sẽ là một ví dụ cho các quốc gia khác.
Gianni ALEMANNO, Thị trưởng Thành Phố Rôma nhận xét:
"Mỗi khi tự do tôn giáo bị đặt thành vấn đề, thì đó là một dấu hiệu cho thấy tất cả các giá trị và nguyên tắc của con người đang bị đe dọa."
Bạo lực chống Kitô hữu người Nigeria chủ yếu là do bàn tay của nhóm khủng bố Boko Haram, khi họ muốn đặt đất nước theo luật Sharia. Ý và các quốc gia khác của cộng đồng quốc tế đã có những nỗ lực với hy vọng ngăn chặn điều này.
8. 50 nghệ sĩ của nhóm Progetto Arte Poli tạo khuôn mặt mới cho nhà thờ
Trong suốt 60 năm, nghệ sĩ Ý Albano Poli đã làm việc để tân trang thẩm mỹ của các nhà thờ Công giáo cũng như cổ võ việc suy niệm thông qua nghệ thuật.
Từ phòng trưng bày nghệ thuật của mình tại Rôma, ông tạo ra các cửa sổ kính màu, khảm và tượng cùng với một nhóm nghệ sĩ được biết tên là Progetto Arte Poli. Đó là một đội ngũ khoảng 50 người ở Verona, Ý.
ANDREA MEZZETTI Trợ lý nhóm Progetto Arte Poli, nói:
"Khoảng 80 đến 90% công việc của chúng tôi liên quan đến Giáo Hội. Từ mặt trời mọc đến hoàng hôn, chúng tôi suy nghĩ là làm thế nào để đem đến một ý nghĩa lớn hơn trong phụng vụ. Chúng tôi cũng giúp đỡ các linh mục để làm thế nào cho việc cử hành Thánh Thể trong ngày Lễ Chúa Nhật được sâu sắc thêm , trong mọi nghi thức tôn giáo. "
Trong số các tác phẩm nghệ thuật tại phòng trưng bày, có một bức tranh khảm khổng lồ của Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đặc điểm khuôn mặt của Ngài. Ngoài ra còn có khảm hình Chúa Kitô phục sinh làm bằng đá cẩm thạch kết nối bằng nhiều mặt khác nhau.
Đội ngũ nghệ sĩ này đã gây tiếng vang quốc tế do các tác phẩm của họ và đã được gửi đến những nơi như Nhật Bản, Ba Tây, Mể Tây Cơ, Đức, Pháp và gần đây nhất ở Chí Lợi.
ANDREA MEZZETTI, Trợ lý nhóm Progetto Arte Poli, phát biểu:
"Chúng tôi đang làm một số công việc quan trọng tại Coquimbo, Chí Lợi, là nơi dựng lên một Thập tự lớn nhất ở châu Mỹ Latinh. Đó là Thánh Giá của thiên niên kỷ thứ ba, gần 300 feet chiều cao (91m44cm) và do Ramón Bravo sáng tạo. Chúng tôi đã được yêu cầu làm cánh cửa bằng đồng cho đền thờ này và một bức tượng bằng đồng của Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ".
Nhóm Progetto Arte Poli cũng chịu trách nhiệm cho việc thiết kế lễ phục cho các linh mục mặc trong Thánh Lễ.
Các tác phẩm nghệ thuật chính xác của họ cho thấy rằng sau hình thức mỹ thuật còn có một ý nghĩa sâu xa hơn nửa.
9. Đức Giáo Hoàng dự một buổi hòa nhạc do các vũ công truyền thống của Đức trình diễn tại Castel Gandolfo
Đức Hồng Y Reinald Marx và giáo phận Munich đã chuẩn bị buổi hòa nhạc này làm một món quà cho Đức Giáo Hoàng Buổi hòa nhạc diễn ra tại Castel Gandolfo, nơi Đức Giáo Hoàng đang nghỉ hè, đã bao gồm khiêu vũ và âm nhạc truyền thống từ quê hương của Đức Giáo Hoàng.
10. Một Quan tòa tại Colorado ra lệnh tạm đình chỉ việc tuân hành Sắc Lệnh Ngừa Thai
Trong một phán quyết pháp lý đầu tiên liên quan đến Sắc Lệnh Ngừa Thai của chính quyền Obama, một thẩm phán tại Colorado đã ra lệnh tạm thời ngưng việc thi hành quy định mới sau khi một Công ty làm lò sưởi tại Colorado đâm đơn kiện là việc thi hành quy định này vi phạm tự do tôn giáo của họ.
Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1 tháng Tám yêu cầu chương trình bảo hiểm sức khỏe cho người lao động phải bao gồm các chi phí ngừa thai, và thuốc men chăm sóc tránh thai cho phụ nữ.
Lệnh của Tòa chỉ giới hạn cho Công ty Hercules vì công ty này nộp đơn kiện. Lệnh cấm sẽ không ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác hoặc các nhóm tôn giáo phi lợi nhuận vì phải thực hiện quy định mới này. Các công ty không hợp tác sẽ bị buộc phải trả tiền phạt $ 100 mỗi ngày cho mỗi nhân viên.
Hiện tại có hơn 20 vụ kiện trên khắp đất nước về Sắc Lệnh Ngừa Thai của Bộ Y tế.
11. Đức Giáo Hoàng gửi thông điệp đến người Hồi giáo nhân kết thúc tháng Ramadan
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã gửi một thông điệp tới người Hồi giáo nhân kết thúc tháng Ramadan. Thông điệp được ký bởi Đức Hồng Y Jean Louis Tauran, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên Tôn.
Trong thông điệp, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục thanh niên Hồi giáo và Kitô Giáo về công lý và hòa bình. Ngài cũng yêu cầu những người trẻ tuổi của cả hai tôn giáo hãy hun đúc "tự do và chân lý" để xây dựng một nền văn hóa tôn trọng các quyền và phẩm giá của mỗi người dân.
12. Gặp gỡ Đức Hồng Y đã phục vụ tại Việt Nam
Từ khi còn trẻ, Đức Hồng Y Edwin O'Brien đã trực tiếp nhìn thấy những khó khăn trong cuộc sống. Trước khi làm Tổng Giám Mục Baltimore, ngài đã từng là Tổng Giám Mục Quân Đội, đúng vào thời điểm chiến tranh Iraq và Afghanistan bùng nổ. Sau khi thụ phong linh mục, Ngài đã phục vụ với tư cách là cha tuyên úy trong chiến tranh Việt Nam.
Đức Hồng Y Edwin O 'Brien Tổng Quyền Hiệp Sĩ Thánh Mộ, nói:
''Tôi làm lễ kết hôn cho Sinh Viên Sĩ Quan sau khi họ tốt nghiệp và trong vòng một năm, tôi lại làm lễ an táng cho họ vì họ đã được thuyên chuyển đến Việt Nam. Tôi hỏi Đức Hồng Y của tôi nếu tôi có thể tham gia trực tiếp vào quân đội với tính cách là một tuyên úy không. "
Khi Đức Tổng Giám Mục O'Brien được phong chức Hồng Y vào tháng Hai, ngài đã nhận được một mũ mới bằng lụa đỏ và một danh hiệu mới. Tuy nhiên Ngài nói rằng, đối với Ngài, nhiều sự việc vẫn tiến hành như trước.
Đức Hồng Y Edwin O 'Brien nói:
"Có thể đó là một danh hiệu cao hơn những gì tôi đã có, nhưng tựu trung tôi không cảm thấy khác nhau gì cả".
Ngoài nhiệm vụ là một Hồng Y, Ngài còn kiêm luôn chức Tổng Quyền Hiệp Sĩ Thánh Mộ. Hiêp hội giáo dân này có khoảng 30.000 thành viên rải rác khắp mọi nơi trên thế giới. Thông qua Giáo Hội, các thành viên này hỗ trợ các Kitô hữu bị thiệt thòi đang sống ở Thánh Địa. Trong các cuộc hành hương, họ có cơ hội nhìn thấy tận mắt những người mà họ đang giúp đỡ.
Đức Hồng Y Edwin O 'Brien nói:
"Chính phủ đã đặt ra các hạn chế nghiêm trọng về đi lại, về lao động, về sở hữu tài sản và các Kitô hữu sống tại Thánh Địa cảm thấy mình giới hạn trong nhiều cách."
Trớ trêu thay, khi các Kitô hữu bản địa tìm cách trốn khỏi Đất Thánh do những hạn chế này thì các Kitô hữu từ các quốc gia khác đang tìm cách nhập cư vào Israel, hy vọng tìm được cơ hội có việc làm tốt hơn.
Hiện tại, với trách nhiệm mới nhất của mình, Đức Hồng Y O'Brien hy vọng có sự gia nhập đông đảo hơn của các thành viên vào Hiệp Hội, nhằm giảm thiểu khó khăn cho các điều kiện sống của các Kitô hữu tại Đất Thánh. Ngài đang có kế hoạch đi đến Israel, một lần nữa, có thể là vào mùa thu.
13. Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16: Có thể công bố thông điệp mới cho Năm Đức Tin
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã viết xong quyển cuối của bộ sách về Chúa Giêsu thành Nazareth thiên về thời thơ ấu của Chúa Giêsu. Sách đang được dịch từ tiếng Đức ra tất cả các ngôn ngữ chính và sẽ được phát hành cùng một lúc.
Có thêm nguồn tin là Ngài có thể viết một thông điệp cho Năm Đức Tin.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 đã viết ba thông điệp. Thông điệp đầu tiên vào năm 2005, ''Thiên Chúa là tình yêu" (''Deus Caritas Est"). Sau đó, ''Chúng ta được cứu rỗi trong hy vọng" (''Spe Salvi") đã được ban hành năm 2007 và cuối cùng ''Bác ái trong sự thật" (''Caritas in Veritate'') năm 2009.
Sau các thông điệp về Bác ái và Hy vọng, kế tiếp có thể là Đức tin, đặc biệt năm nay Giáo Hội đi vào năm Đức tin nằm trong chương trình Tân Phúc Âm hóa, nhằm mục đích phát huy sâu sắc trong đức tin.
14. Tổng thống Obama nhận lời mời đến nói chuyện tại một buổi dạ tiệc từ thiện Công Giáo do Đức Hồng Y Dolan tổ chức
Tổng thống Obama dự kiến tham dự buổi dạ tiệc từ thiện Al Smith tổ chức hàng năm tại Nữu Ước vào tháng mười. Ông nhận lời tham dự buổi tiếp tân này theo lời mời của Tổng Giám Mục Nữu Ước, Đức Hồng y Timothy Dolan .
Buổi dạ tiệc được tổ chức hàng năm và thường mời đương kim Tổng Thống và ứng viên tổng thống thuộc đảng đối lập. Năm 2008, Barack Obama và John McCain đều tham dự, với Đức Hồng Y Edward Egan ngồi giữa hai người. Tuy nhiên, năm nay người ta không rõ Ông Mitt Romney có tham dự hay không.
Việc mời Tổng thống Obama là một sự kiện đáng ngạc nhiên vì Đức Hồng Y Dolan đã là một trong những tiếng nói mạnh mẻ hàng đầu chống đối bộ luật về Bảo hiểm sức khỏe do Nhà Trắng chủ trương, trong đó bắt buộc các trường Cao đẳng Công giáo và Nhà Thương tài trợ việc ngừa thai.
15. Trung Quốc phản ứng sau Báo cáo về Tự Do Tôn Giáo của Mỹ
Năm nay báo cáo về tự do tôn giáo do Bộ Ngoại giao Mỹ phát hành đã đặc biệt chú trọng đến các nước như Iran, Bắc Triều Tiên, và Trung Quốc.
Trung Quốc trả lời sau đó, nói rằng bảng báo cáo này là một sản phẩm của "kiêu ngạo và sự thiếu hiểu biết" của Hoa Thịnh Đốn.
Báo cáo cho biết có một "sự thoái hóa trầm trọng trong năm 2011", nêu lên các cuộc đàn áp tại khu vực Tây Tạng và khu vực miền Tây của Trung Quốc là nơi cư trú của nhiều người Hồi giáo.
Báo cáo nêu lên việc 12 tu sĩ phật tử đã tự thiêu để phản đối sự hạn chế của chính phủ trong việc thờ phượng và quyền tự do.
Các quan chức Trung Quốc đã đưa ra câu trả lời của họ thông qua các cơ quan thông tấn Nhà nước và nói rằng báo cáo là "một công cụ chính trị được sử dụng để gây áp lực lên các nước khác".

http://www.youtube.com/watch?v=Mp1_fubNIhs
Chuyên mục: , , ,